BÀI 06 QUÁ TRÌNH VĂN TƯ TU

  -  
*

Tu học
*
TLTH Bậc Định -Văn Tư Tu

TLTH Bậc Định -Văn Tư Tu

Created on Wednesday, 18 April 2012 15:51

VĂN TƯ TU

( Vừa thuyết trình vừa thảo luận)

I. DUYÊN KHỞI:

Trong buổi Đức Phật Thích Ca giảng Kinh Lăng Nghiêm có Bồ Tát Quán Thế Âm cùng 24 đệ tử của Phật nói lên kinh nghiệm chứng đắc của mình, Quán Thế Âm Bồ Tát nói về công năng của pháp môn Văn Tư Tu giúp Ngài chứng đắc. sau đó, Đức Phật nói ngài Văn Thù Sư Lợi chọn cho A Nan và người đời sau 1 trong 25 pháp môn tu tập đã giúp 25 vị đại đệ tử của Phật đắc quả. Ngài Văn Thù Sư Lợi chọn pháp môn Văn Tư Tu của ngài Quán Thế Âm, vận dụng nhĩ căn mà chứng quả.

Bạn đang xem: Bài 06 Quá Trình Văn Tư Tu

 

Ngày nay, Huynh trưởng chúng ta cũng vận dụng Văn Tư Tu trong bước đường tu tập của mình.

II. THẾ NÀO LÀ VĂN TU TƯ?

 1/ Văn Tu Tư theo nghĩa thông thường: Văn là nghe lời Phật dạy ( giáo lý). Tu là nghĩ, sau khi nghe cần suy nghĩ lời dạy ấy có đúng sự thật không, có đúng với thực tế không?. Tu là sửa, suy gẫm nếu ta nhận thấy điều Phật dạy là thực tế cụ thể rõ ràng thì ta phải nghe theo Ngài để sửa mình, dần dần để thoát được khổ đau.

Ví dụ: Phật dạy “Tham là nguồn gốc của đau khổ”. Sau khi nghe kỹ, ta suy nghĩ xem mình đã có lần nào tham chưa? Sự thật thì trong cuộc sống, ta đã tham lam quá nhiều, mong được điều này rồi mong được điều khác. Lòng tham quả là vô bờ bến và chính loàng tham ấy đã làm ta dằn vặt, đau khổ chưa nói đến những ham muốn mà chưa đạt thì thật không d8au khổ gì bằng. “Sân là nguồn gốc của đau khổ”.I Khi nghe kỹ rồi suy ngẫm xem có giận dữ nào mà làm mình không đau khổ? Mỗi khi cơn giận nổi lên là đứng ngồi không yên, ăn ngủ không ngon, tâm trí rối loạn…Đức Phật dạy” Si là nguốn gốc của đau khổ”. Khi nghe kỹ, ta suy xét thêm, nếu ta không hiểu được tham là nguồn gốc của đau khổ, sân là nguồn gốc của đau khổ, cuộc sống ta luôn tham đắm vào cái này cái nọ, hết giận dữ chuyện này lại sang giận dữ chuyện khác, có phải ta cứ quay cuồng trong đau khổ, đau khổ cứ chồng chất lên đau khổ? Nếu ta biết rõ nguyên nhân gây nên đau khổ, thì ta tìm cách diệt trừ nó đi có phải là an lạc không? Suy rộng ra, loài người cướp giật chém giết nhau, thế giới mãi chiến tranh thù hằn có phải là do Tham Sân Si hay không?

Khi đã suy nghĩ, hiểu rõ điều Đức Phật dạy là chân lý thì chúng ta phải thực hiện theo sự chỉ dạy của Ngài, phải bằng phương pháp mà Ngài đã trao truyền để sửa mình, giảm dần tham sân si, thì tất nhiên, chúng ta sẽ được an lạc, sẽ giải thoát khỏi khổ đau.

Nếu chỉ hiểu Văn Tư Tu như vậy thì pháp môn nào lại không thế, vì Đức Phật đã nói” Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta” và “Đừng vội tin bất cứ một điều gì dù đều đó được truyền tụng từ lâu đời, mà phải tin ở lý trí của người”.Cho nên bất cứ giáo lý nào ta cũng phải suy tư. Lại nữa, giáo lý của đạo Phật không phải là một học thuyết mà là phương pháp để diệt trừ đau khổ nên không phải học để biết, suy tư để hiểu thấu đáo mà phải đem áp dụng vào cuộc sống. Tu như vậy mới đúng là tu học. Còn đọc chỉ để mà biết ( sở tri chướng) thì chẳng ích lợi gì cả.

THẢO LUẬN:

Chúng ta tạm dừng lại ở mức độ “ ý nghĩa thông thường của Văn Tư Tu” mà xét lại mình, xem chúng ta đã học giáo lý đúng theo tinh thần Văn Tư Tu thông thường ấy chưa?

Văn: cho là chúng ta học kỹ rồi, hiểu rõ rồi. Nhưng Tu chưa? Thành thật tự kiểm điểm lấy mình. Nếu chúng ta đã Tư tức là dùng lý trí suy xét và có thấy được giáo lý là chân lý không?

Nếu chưa phải là chân lý mà chúng ta vẫn tin, vẫn tiếp tục học giáo lý thì mình mâu thuẩn chính mình.

Nếu ta thấy rõ giáo lý là chân lý mà ta còn tin ở bói toán, số mệnh, tin vào các loại thiền ngoại đạo, tà đạo ( mà cũng dán nhãn hiệu Phật giáo) thì cũng lại là mâu chuẩn với chính mình!

Chúng ta phải Tư. Sau khi Tư thì phải có thái độ dứt khoát.

Tu: Chúng ta đã Tu chưa?

Chúng ta dạy các em là học phải Tu, nhưng hôm nay chúng ta dành ít phút tự phản tĩnh để thấy mình đã Tu chưa? ( chỉ nói đến mức độ là giữ gìn năm giới) – Để mỗi người tự thành thật phát biểu dựa vào từng giới một, để rồi đi đến kết luận.

Thành thật mà nhận rằng, Huynh trưởng chúng ta chưa Tu hoặc Tư chưa có bao nhiêu.

Học giáo lý không cốt để biết, để hiểu ( Văn Tư) và truyền đạt lại cho các em mà còn cốt để Tu, để giải thoát khổ đau.

Còn đối với các em Đoàn sinh, dù Anh chị Huynh trưởng nói rất hay, giảng rất hay nhưng bàn thân anh chị ấy không Tu thì nói giảng hay bao nhiêu thì lại tự hổ thẹn bấy nhiêu. Đó là chưa nói đến các em biết được nếp sống của Anh chị ấy ( không ăn chay, hay rựơu chè, mua bán không chân thật, đãi bôi ngoài miệng, ham danh đắm sắc…) thì các em lại càng mất tin tưởng vào Anh chị Trưởng.

Là Huynh trưởng bậc Định, chúng ta không dừng lại Văn Tư Tu ở mức độ thông thường mà phải cần tiến xa hơn.

· Văn Tư Tu theo kinh điển:

Trong pháp môn Văn Tư Tu của Quán Thế Âm Bồ Tát thì bất kỳ một âm thanh nào cũng được qua trình tự: Lắng nghe tiếng động ( Tiếng động vào tai: Văn) -= Vào rồi đi đâu? Vào rồi lắng xuống, tâm ta thế nào, tâm ta không lay động ( Tư)- Giữ vắng lặng, không lay động, không phân biệt động tĩnh ( Tu) – Kết quả: Không còn năng văn sở văn, không còn năng giác sở giác, không còn năng không sở không, đến sinh diệt cũng không. Chính lúc này tịch tính sẽ thể hiện. Nhưng nghe cái gì? Trước hết là “ phản văn tự tánh” ( trở lại nghe chính tự tánh của mình)

Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, vậy ta hãy nghe Phật ở chính trong ta, trở về lắng nghe tự tánh của mình.

Xem thêm: Xuất Gia Gieo Duyên Để Làm Gì? Chùa Giác Ngộ

Tiếp theo là “Quán Thế Âm” tức là nghe quán tiếng thế gian, tiếng kêu khổ của cuộc đời, mà cũng chính âm thanh thọ khổ của chính bản thân mình. Tiếng đó xuất phát từ Tham Sân Si, tiếng vọng thức chấp ngã. Quán Thế Âm là quán các tiếng đó nơi mình và nơi nhất thiết chúng sanh ( Quán thọ thị khổ).

Càng nhất tâm ( định sâu), chúng ta thấy được T6am vô thường, Pháp vô ngã (nói rõ trong bài Tứ Niệm xứ). Vận dụng nhất tâm mà quán trạng thái nội tâm tạo sinh đau khổ cho đến lúc trông rõ thực tướng tâm pháp thì hiển nhiên giải thoát khỏi ràng buộc khổ đau ( Tức thị âm thanh giai đắc giải thoát).

Vậy trong cái Văn ấy đã hàm chứa luôn cả Tư, Tu và cả Chúng nữa.

Rõ ràng Quán Thế Âm là một pháp môn ( trong đó có cả Văn Tư Tu và đưa đến kết quả Chúng). Đây là phương pháp thực dụng Tứ Niệm Xứ do Đức Thế Tôn công bố cho nhân loại. Quán Thế Âm là danh của một tướng dụng do Đức Phật truyền lưu, ai hành trì tướng dụng đó tức giải thoát được khổ đau. Cho nên có người nói :”Quán Thế Âm Bồ Tát là vị tầm thanh cứu khổ” tức là nói đến kết quả của tướng dụng này.

Như phần triển khai Văn Tư Tu theo kinh điển đã trình bày ở trên thì trong Kinh Phổ Môn tức là phẩm nói về Quán Thế Âm Bồ Tát, đoạn nào nêu rõ ý nghĩa trên? Và thực hiện Văn Tư Tu theo phương pháp Quán Thế Âm là làm như thế nào?

(Huynh trưởng đóng góp ý kiến và thảo luận)

Sau đó, chủ tọa ( giảng viên) chốt lại một số trọng tâm:

Toàn bộ Kinh Phổ Môn đều nói lên tinh thần đó nhưng rõ ràng hơn cả là đoạn đầu của kinh ( theo trình tự các mệnh đề).

- Thiện nam tử, nhược hữu vô lượng bá thiên vạn ức chúng sanh thọ chư khổ não

- Văn thị Quán Thế Âm Bồ Tát.

- Nhất tâm xưng danh Quán Thế Âm Bổ Tát.

- Tức thời Quản kỳ âm thanh

- Giai đắc giải thoát.

(Tạm dịch: Này thiện nam tử, bằng có trăm ngàn vạn ức chúng sanh, không lượng nỗi, cảm nhận đủ loại đau khổ, nghe nói đến Quán Thế Âm Bồ Tát, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát trong trạng thái nhất tâm dùng thiền niệm mà hiểu biết âm thanh đó tức giải thoát).

Quán đến mức độ đó thì Quán Thế Âm Bồ Tát cũng chính là Quán Tự Tại Bồ Tát, và trong Kinh Bát Nhã “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách…” (Chiếu kiến ngũ uẩn giai không cũng chính lá quán vô thường vô ngã vì vô thường vô ngã không có mối liên hệ với nhau như trong bài Vô Thường- Vô Ngã- Không ở bậc Trì mà chúng ta thấy được điều đó).

Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tức là thực hiện Văn Tư Tu theo pháp môn Quán Thế Âm là phương pháp tu tập kiểm soát tư tưởng của bản thân mình, lấy niệm quán làm chủ thể, coi các tướng tâm vọng thức hiện ra nơi tâm là khách thể, khách chẳng phải là mình. Thành tựu niệm quán như vậy sẽ đưa đến kết quả chứng được vô ngã. Niệm quán ở đây cụ thể là quán Tứ Niệm Xứ.

Sau khi thấu triệt tinh thần Văn Tu Tu của đạo Phật, Huynh trưởng chúng ta tu như thế nào? Ta đã thừa nhận mình tu chưa được bao lăm, vậy ta phải vạch cho mình một phương hướng tu tập. Bất cứ lúc nào ta cũng có thể tu được chứ đâu phải đợi thời gian rãnh rỗi. Vì, Tu tức là Sửa. Tu tức là vận dụng giáo lý đạo Phật vào đời sống hằng ngày và phải nhìn rõ cứu cánh đạo Phật là giải thoát khổ đau đi đến an vui tự tại (Huynh trưởng phát biểu theo suy nghĩ của mình rồi chủ tọa đúc kết, nêu các ý chính)

Cứu cánh chỉ là một, nhưng đi đến cứu cánh ấy cũng có từng bậc thang:

- Quy y Tam bảo giữ 5 giới: chỉ là giai đoạn kết duyên với Phật, trang bị nhân cách (luân lý bình thường). Một con người xứng đáng là giá trị con người. Đây là giai đoạn căn bản nhất và không thể thiếu.

 - Hành thập thiện: Đã đến một mức độ cao hơn, nhưng cũng chỉ để hưởng phứơc báo sung sướng ở các cõi trời, chưa phải là giải thoát khổ đau đi đến bờ an lạc.

- Để tiến dần đến giải thoát, dứt sạch được sanh nhân, thoát khỏi cảnh sanh-tử-luân-hồi, chúng ta phải tu tập vận dụng Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Lục Độ…

 

- Phải áp dụng Văn Tư Tu như là phương pháp thiết thực nhất và hữu hiệu nhất, tuy phân tách Văn riêng, Tư riêng, Tu riêng, nhưng qua trình bày và thảo luận trên đây, ta đã thấy rõ ba phần đó quyện chặt váo nhau chứ không thể tách rời từng bộ phận.

 

 

KẾT LUẬN:

 

Kinh Pháp Cú có câu:”Người không học như cây thịt thấy, học không hành như đãy dựng đồ”.

Xem thêm: Tụng Kinh Vu Lan Bồn Báo Hiếu Công Ơn Cha Mẹ, Kinh Vu Lan

Là một Huynh trưởng, tất nhiên không thể là “ cây thịt thấy” và cũng không thể là “ đãy đựng đồ”. Hành ở đây tức là Tu. Chúng ta cũng phải biết vận dụng phương pháp tu hữu hiệu và thiết thực để đi đến cứu cánh giải thoát chứ không phải chỉ tu để cầu phước báo, phải tin tưởng ở khả năng giác ngộ của mình. Phương pháp đó là Văn Tu Tu.