Thập giới cô hồn quốc ngữ văn

  -  

So với biền văn bằng chữ Hán, biền văn Nôm có sức biểu đạt đời sống tâm tư tình cảm gần gũi, phong phú, hấp dẫn và dư ba hơn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung tìm hiểu văn Nôm trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn - một áng văn độc đáo thời thịnh Lê.




Bạn đang xem: Thập giới cô hồn quốc ngữ văn

*

S 4 (45) - 2013 - Di sn vn h‚a phi vt thBIỀN VĂN NÔM(QUA THẬP GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN) MỘT DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂHOÀNG TH TUYT MAI1. Biền văn Nôm và giá trị biểu đạt của nó“Biền văn là lối viết nằm giữa văn xuôi và vănvần, dùng nhiều điển đến khó hiểu, lời lẽ chauchuốt, từ ngữ đẽo gọt hoa mĩ, chú trọng bằng trắc,âm điệu hài hòa1”. Ở Việt Nam, từ thời Bắc thuộc,Nho sĩ đã sử dụng thành thạo cách viết này. ThờiLý- Trần các thể kí, phú, chiếu, cáo, biểu,… thườngdùng biền văn và nhiều tác phẩm có giá trị nghệthuật khá cao. Đến đời Lê - Nguyễn, do yêu cầu củathi cử nên biền văn ngày càng được sử dụng rộngrãi. Tuy nhiên, các sáng tác biền văn bằng chữ Nômkhông nhiều. Sau mấy bài phú Nôm đời Trần, đếnthời thịnh Lê chỉ có duy nhất một tác phẩm biềnvăn bằng chữ Nôm là Thập giới cô hồn quốc ngữvăn của Lê Thánh Tông. So với biền văn bằng chữHán, biền văn Nôm có sức biểu đạt đời sống tâm tưtình cảm gần gũi, phong phú, hấp dẫn và dư bahơn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tậptrung tìm hiểu văn Nôm trong Thập giới cô hồnquốc ngữ văn - một áng văn độc đáo thời thịnh Lê.2. Văn Nôm biền ngẫu trong Thập giới cô hồnquốc ngữ văn - soi chiếu từ đặc trưng cơ bản củabiền vănThập giới cô hồn quốc ngữ văn là một áng biềnvăn tài hoa, kí thác dòng chảy bất tận của cảm xúcngười nghệ sĩ cung đình trong khuôn khổ một ángbiền văn Nôm viết cho cõi tâm linh. Bút pháp củaLê Thánh Tông trong áng biền văn Nôm độc đáovà lý thú.2.1. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn vận dụngphép đối rất linh hoạtNguyên tắc đối trong biền ngẫu có những yêucầu rất chặt chẽ và phức tạp. Trong biền văn từngcặp câu đi song song đối nhau. Yêu cầu giữa haicâu phải có số từ bằng nhau, kết cấu ngữ phápgiống nhau, từ tính đối nhau2. Theo Lê Quý Đôn,có sáu phép đối như sau: đối chính danh, đối đồngloại, đối liên châu, đối tá tự, đối tựu cú, bất đối chiđối3. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn vận dụng hầuhết các phép đối của cổ nhân một cách khá linhhoạt, cân đối, mực thước và điển nhã. Có khi sáucâu, tám câu, thậm chí trên mười câu mới dùngmột vần. Ngay những dòng mở đầu, tác giả đã sửdụng phép đối chính danh hoàn chỉnh: “Ngựa cửasổ, kiến đầu cành, xe ngày tháng dễ qua thoănthoắt/Bọt ghềnh sông, vờ mặt nước, tựa thân ngàikíp biến mờ mờ”. Trong hai câu trên, “Ngựa cửa sổ”đối với “Bọt ghềnh sông”, “kiến đầu cành” đối với“vờ mặt nước”, “xe ngày tháng dễ qua thoăn thoắt”đối với “tựa thân ngài kíp biển mờ mờ”. Phép đốinhấn mạnh về sự ngắn ngủi của đời người nhưkiếp sống của con vờ trên mặt nước. Công danh87 Hošng Th Tuyt Mai: Bin vn N“m...88như giấc mộng dưới gốc cây hòe, cuộc đời phù du,biến ảo như bóng ngựa trắng đi qua cửa sổ. Kiếnthức Nho giáo, Phật giáo đều được tác giả huyđộng để viết lên những câu mở đầu như lời địnhhướng và khái lược nội dung chính của toàn bộvăn bản. Đây là đối đồng loại: “Vinh hoa rợpthế/Công nghiệp hơn người” (Thứ ba Giới quanliêu). Cụm từ “công danh rợp thế” và “công nghiệphơn người” đăng đối với nhau, rất chỉnh về cấu trúcvà ngữ nghĩa. Đây là đối liên châu (chữ điệp âm đốivới nhau): “Kìa Khổng Tử ách nơi Trần, Thái, mặt đãrầu rầu/Nọ Lương Vũ khôn thuở Đài Thành, dạ đàlép lép” (Phần đầu bài văn). Hai từ “rầu rầu” và “léplép” là những chữ điệp âm, nằm cuối hai câu, đốivới nhau tạo cho câu văn biền ngẫu sự đăng đốivề ngữ pháp, ngữ nghĩa và về cả âm điệu. Hay: “TôLang nằm lỗ giá ăn sương, ruột sầu rười rượi/ChâuDị thấy hột cơm bám má, lòng tiếc ngùi ngùi”(Phần đầu bài văn). Những từ “rười rượi”, “ngùingùi” là từ điệp âm với nhau, chỉ tâm trạng, trạngthái tình cảm của con người. Hai từ vừa đối vớinhau, vừa bổ sung ý nghĩa và làm rõ hơn một hiệnthực đời sống mà người viết kí thác. Khi con ngườibị dồn vào cảnh bế tắc, cùng đường như Tô Vũ đờiHán đi sứ Hung Nô, bị chúa Thuần Vu bắt giam ởcái lỗ phải uống sương và ăn lông chiên để tồn tại.Hoặc như Châu Dị đời Lương Vũ Đế (Trung Quốc),thuở hàn vi phải đi viết mướn kiếm ăn, khi đói thấyai ăn có hột cơm dính má cũng thèm, sau này họcgiỏi làm nên sự nghiệp. Những bài học lịch sửkhông mới, nhưng mỗi tác giả vận dụng trong chitiết nghệ thuật khác nhau lại có những lớp nghĩamới mẻ, hấp dẫn riêng. Văn biền ngẫu trongtrường hợp có đối liên châu vừa trang trọng, vừathư thái, vừa mực thước, vừa tài hoa. Tác giả tỏ rakhéo léo trong việc dụng câu, tìm từ, đặt các từtrong chỉnh thể chặt chẽ tạo ý thơ đăng đối, chữnghĩa tề chỉnh và thể hiện cái nhìn từng trải củangười đã chứng kiến bao lẽ thịnh - suy, hưng vong của cuộc thế. Giá trị chân thực của đời sốngđược nhìn nhận ở phương diện khái quát, giá trịnhân văn của tư tưởng được soi chiếu từ tâm hồnngười đứng đầu có quyền uy tối thượng và có sựrung cảm sâu sắc với những biến ảo của cuộc đời.Ngòi bút của tác giả cũng tỏ ra điêu luyện khidùng phép đối tá tự (mượn nghĩa để đối):“Dồn cửucung bát quái, vào một nắm tay/Làu vạn thủythiên sơn, trước đôi con mắt” (Thứ năm giới thiênvăn, địa lý). Theo Hậu Hán thư, sao Bắc Đẩu dichuyển theo tám cung là: kiền, khảm, cấn, chấn,tốn, ly, khôn, đoài rồi trở về trung ương, gọi là chíncung tất cả. Tám cung trên ứng với tám quẻ củaKinh Dịch, gọi là bát quái. Cửu cung bát quái đốinghĩa với Vạn thuỷ thiên sơn, nghĩa là muôn sôngnghìn núi, ở đây nói các thế đất. Mượn nghĩa đểđối giúp tác giả bộc lộ sự am hiểu của mình về kiếnthức vũ trụ, với cái nhìn thấu tỏ càn khôn - mộttrong những phẩm chất hàng đầu của người kinhbang tế thế, cai trị muôn dân. Cũng vậy, đối tựu cú(chữ câu nào chọi với chữ câu ấy) cũng được Thậpgiới cô hồn quốc ngữ văn sử dụng khá rộng rãi.Chẳng hạn: “Đầu quấn tóc rễ, tấp tểnh phô đắmnguyệt, say hoa/Gót dỉ chân chì, đủng đỉnh muốnmua hài chác hám” (Thứ tám Giới hoa nương). Dễdàng nhận thấy trong hai câu văn biền ngẫu trên,Lê Thánh Tông dùng đối rất tỉ mỉ: đầu - gót, quấn dỉ, tóc rễ - chân chì, tấp tểnh - đủng đỉnh, phô muốn, đắm nguyệt - mua hài, say hoa - chác hám.Vốn liếng từ ngữ và vốn liếng tri thức đời sốngphong phú đã cho vị chân Nho với tư thế lồng lộngcủa đấng chí tôn thời thịnh Lê những câu văn Nômsống động, chân thực. Giới hoa nương dẫu khôngphải là phần mà người viết dụng công và tâmhuyết nhất4 nhưng cách hành văn trong phần nàycó sức hấp dẫn, lôi cuốn bởi tài dụng ngôn ngữ vàam hiểu của tác giả về loại người “say mây mưa”,“đắm trăng gió”. Giá trị răn dạy trong phần này đậmmàu sắc Nho giáo. Bất đối chi đối cũng là bút phápmà Lê Thánh Tông thể hiện trong bài: “Ấy thánhhiền những đấng anh hùng/Phải cơ khát đoái chiliêm sỉ!” (Phần đầu bài văn). Hai câu trên không đốinhau về từ, câu, cấu trúc ngữ pháp nhưng vẫn cóý đối. Đối giữa ý “thánh hiền”, “đấng anh hùng” vớitình cảnh lúc thất thế của chính họ. Phong thái, vịthế, uy danh của họ vốn được xã hội nể vì nhưngkhi sa cơ, phải “cơ khát” cũng như một số conngười bình thường khác “đoái chi liêm sỉ”. Hai câuvăn vẫn tiếp nối ý của mạch văn trước đó “No nênbụt, đói nên ma” và có giá trị nhân sinh rõ nét.Thập giới cô hồn quốc ngữ văn là áng văn màngười viết dụng công khéo léo, là áng văn Nômbiền ngẫu đầu tiên của bậc hoàng đế người Việt S 4 (45) - 2013 - Di sn vn h‚a phi vt thdành để đoái thương đến thế giới cô hồn - vốn làmột miền tâm linh bí hiểm nhưng vẫn chịu sựquản lí của đấng tối cao trị vì (đức vua). Nhìn nhậnmột cách thấu suốt, tước bỏ đi vị thế trị vì, cái nhìnbề trên, người đọc nhận thấy lòng yêu thươngngập tràn của một con người trần thế với tâm hồnnhạy cảm biết sẻ chia với những kiếp người trongcuộc thế vốn lắm khổ đau, nhiều thăng trầm. Vìvậy, giá trị nhân văn của Thập giới cô hồn quốcngữ văn là rất lớn.2.2. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn dụng điểntài hoaTrong văn học trung đại, điển cố được xem làbiện pháp tu từ, là chiếc chìa khóa của tác phẩmđể mở ra thế giới bao la muôn màu, muôn vẻ màtác phẩm phản ánh, cũng như thế giới tâm hồnsâu xa, thầm kín nhưng nhạy cảm và tinh tế củangười sáng tác. Dùng điển là “dựa vào sự việc, lấycái ý nghĩa tương tự, viện dẫn truyện cổ để chứngminh truyện nay”5. Theo chú thích trong cuốnTổng tập văn học Việt Nam, tập 4, bước đầu thốngkê được 59 điển. Tất cả các điển được sử dụng chủyếu là trên tinh thần, hầu như không có điển nàodùng nguyên điển. Trong văn Nôm biền ngẫu màđối tượng hướng đến là “thập giới”, điển được sửdụng phải sao cho khéo, phù hợp với với ngôn ngữvà tư duy người Việt bình dân. Những trở ngại vềsự phù hợp giữa điển sử dụng với phông nền vănhóa, với nếp nghĩ, nếp cảm của đời sống là nhữngngưỡng tiếp nhận mà tác giả phải vượt qua. ỞThập giới cô hồn quốc ngữ văn, người cầm bútphải dụng công để các điển phù hợp với mộttrường liên tưởng khá đặc biệt của cõi tâm linh,của thế giới ảo mà người sống tuy chưa từng kinhqua nhưng lại có nhiều hình dung về nó. Đặc biệt,phạm vi của các điển khá rộng rãi, trong đó có điểncố thuộc Đạo giáo và tư tưởng Lão Trang (7 điển),điển cố Phật giáo (3 điển), còn lại là điển thuộc vềnhững nhân vật lịch sử Trung Quốc, rút từ thơĐường, Hán Thư, Kinh dịch, Lục thao, Tam lược...Đáng lưu ý là phần Giới Nho sĩ đã có tới 17 điểnNho giáo được huy động, chưa kể những điển khácnằm rải rác trong toàn bộ tác phẩm. Điều này hếtsức dễ hiểu, bởi lẽ Lê Thánh Tông là vị vua anhminh thời kì mà quốc gia dân tộc đang mạnh lêntừng ngày, Nho giáo được coi như phương tiệnđắc dụng để xây dựng và ổn định xã hội. Trong 12dòng văn biền ngẫu thuộc phần Giới Nho sĩ tác giảsử dụng tới số lượng điển khá lớn (7 điển): BáNgạn, Đỗ Lăng, Lan Đình, Liên xã, Non cao nướcchảy, giơ cức bắn cương, Côn, Bằng… Những câuvăn: “Đứng Tao Đàn gióng cờ nghe trống/Đến tựtường ngang thiết cầm thương/Tuyết Bá Ngạn,hoa Đỗ Lăng, chẳng câu chẳng lạ/Thiếp lan đình,tập Liên xã, mọi nét mọi màu…” hướng đến cáihay của thơ, cái tài của Nho sĩ, đến tư thế lộng lẫy,hào sảng của kẻ đỗ đạt hiển vinh nơi đan trì, kimbảng, đến tâm thế vững chãi kinh bang tế thế củanhững bậc hiển Nho.

Xem thêm: Ghim Trên Châm Ngôn Sống



Xem thêm: Phim Bo Phim Bo Quan Am Dieu Thien Tap 1 Phim Hay Nhat 2020 #2

Tựu chung là mối thiện cảm,tin tưởng ngập tràn với sự nghiệp chính trị lấy Nhogiáo làm kim chỉ Nam trong thời thịnh Lê của lịchsử dân tộc.Lăng kính của bài biền văn Nôm là lăng kínhcủa đệ tử nơi cửa Khổng sân Trình, thêm nữa, đượcbổ sung bởi vốn sống phong phú, đa dạng củathực tế đời sống đang vận động nơi dân gian củaxã hội Việt bản địa. Sự phong phú về vốn sống cònthể hiện qua những hiểu biết của tác giả về Phậtgiáo, Đạo giáo, tạo nên cái nhìn đa diện, giàu có,cảm hứng dồi dào, chân thực trong bài biền vănđộc đáo của lịch sử văn Nôm dân tộc.2.3. Thanh luật trong Thập giới cô hồn quốc ngữvăn du dương và hấp dẫnThanh luật trong biền văn là yêu cầu về hiệpvần và bằng trắc, tuy nhiên không nghiêm ngặtnhư trong thơ, mà chỉ yêu cầu đại thể. Người viếtphải chú ý đến tiết tấu, phối hợp âm trắc (T), bằng(B) sao cho du dương, nhặt khoan, lên bổng xuốngtrầm. Về nguyên tắc, với câu tứ tự thì dùng tiết tấubằng trắc ở chữ thứ hai và chữ thứ tư. Với câu lụctự, nếu là tiết tấu 2/4 thì dùng bằng trắc ở chữ thứhai, thứ tư, thứ sáu; nếu là câu tiết tấu 3/3 thì dùngbằng trắc ở chữ thứ ba và thứ sáu. Đồng thời giữahai vế trong câu biền văn thì yêu cầu bằng trắcphải đối nhau. Trong Thập giới cô hồn quốc ngữvăn, tác giả sử dụng những cặp đối tạo hiệp vầnbằng trắc. Đây là những câu tứ tự : «Ham thói (T)Nho phong (B)/Mến nghề (B) cử tử (T)» (Thứ tư GiớiNho sĩ). Hay: «Lảu hay (B) ba kế (T)/Gồm lọn (T)năm tài (B)» (Thứ bảy Giới tướng quân). Đây lànhững câu lục tự tiết tấu 2/4 có cách đối B - T và rấtchuẩn, tạo cho người đọc cảm giác dễ nghe, dễ89 Hošng Th Tuyt Mai: Bin vn N“m...90nhận, nhịp nhàng và có phần cân đối : «Tiếng thốt(T)/ẻo à (B), ẻo ợt (T)/Nết làm (B)/chuộng quí (T),chuộng thanh (B) (Thứ tám Giới hoa nương). Tuyvậy, có những câu cũng không tuân thủ chặt chẽcách đối B - T để tạo thanh luật, có chút phá cách,chút linh hoạt và chút phóng túng trong việc lựacâu chọn vần tạo cho những dòng văn giọng điệugiễu nhại, phê phán, thể hiện cái nhìn tươi mới vàchân thực về những biểu hiện phong phú và sinhđộng của cuộc sống muôn màu: «Để trễ (T)/việccửa (T) việc nhà (B)/Lo lắng (T)/đánh đàn (B) đánhđúm (T), (Thứ mười Giới đãng tử). Với những câulục tự tiết tấu 3/3, có lúc Lê Thánh Tông sử dụng B- T đối tạo âm luật rất chuẩn: «Sắm của ăn (B), locủa mặc (T)/Săn mớ thuốc (T), sắp mớ cau (B)»(Thứ mười Giới đãng tử). Nhưng, cũng có lúc ôngsử dụng những vần (B) liên tiếp để nhấn mạnh sựla cà, lười biếng, ham chơi của những đãng tử: «Bãiđám hè (B)/sang đám hội (T)/Chạy cửa Đà (B)/lacửa Mai (B)» (Thứ mười Giới đãng tử). Với nhữngcâu dài hơn, Lê Thánh Tông phối hợp vần B - T, phốiâm, dùng từ láy, từ ghép đôi hết sức linh hoạt tàihoa tạo cho câu văn hấp dẫn, sinh động và dudương, trầm bổng: «Ái ân vờ, nhân nghĩa cây vối,châu đã đằm đằm/Nước mắt gừng, tâm sự xôichiêm, suối đà lã chã» (Thứ tám Giới hoa nương).Cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo thanh luật,việc lựa chọn hình ảnh, ví von, so sánh hết sức sắcsảo, chân thực và đầy tính thẩm mĩ, biền văn Nômtrong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có sức ámảnh, sức lôi cuốn người đọc, sức cảm và sức layđộng sâu sắc với những ai từng lật giở nhữngtrang biền văn Nôm vào loại tương đối cổ này. Dẫucũng đã xa lắm về mặt thời gian nhưng có mộtđiều hết sức gần gũi về mặt tư tưởng, rằng, ángvăn nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn cho đếntận ngày nay vẫn bảo lưu những giá trị thẩm mĩ vànhân văn sâu xa mà Lê Thánh Tông - vị chánh soáicủa thi pháp hoàng gia6 từng phát hiện.3. Những bài kệ kết thúc mỗi phần - nét độcđáo của Thập giới cô hồn quốc ngữ vănKết thúc bằng một bài kệ ngắn gọn là một nétđặc sắc của văn thơ Phật giáo thời Lý - Trần. Cáctác phẩm tiêu biểu, như Khóa hư lục của Trần TháiTông (viết bằng chữ Hán), Cư trần lạc đạo phú,Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần NhânTông, Vịnh Hoa Yên tự phú của Huyền Quang(những áng văn Nôm) đều sử dụng những bài kệđể kết thúc mỗi phần hoặc toàn bài. Bài kệthường truyền tải những quan niệm về nhân sinhquan, vũ trụ quan dưới lăng kính của người viếtmột cách ngắn gọn, dễ nhớ. Nếu người chủtrương theo Phật khuyên người ta không nênvướng bận, lòng hướng Phật để tìm sự bình yên,thì Lê Thánh Tông lại làm cho người đọc trăn trở,suy tư về cách sống, lối sống, về những phù du,biến ảo của cuộc đời và từ đó đối diện với cuộcđời bằng tâm thế vững chãi và cái nhìn thấu suốthơn. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có mười bàikệ tương ứng với mười “giới” (loại) người trong xãhội. Các bài kệ được viết với cảm hứng đặc biệt,có giá trị răn dạy cô đọng. Văn phong tài hoa,uyên bác và giàu xúc cảm. Trước khi viết nhữngdòng kệ đầy thương cảm, tác giả luôn bắt đầubằng cụm từ “Hỡi ôi!” nêu những đúc kết của haicõi âm - dương, sống - chết bằng hai cụm từ giàusức gợi cho tất cả các phần “sống bởi chưng...” và“thác cho phải...”7 như một lời than não nề cho sựphù du của kiếp người. Những đánh giá của tácgiả về từng hạng người thực sự được đúc kết sauhai từ “sống bởi chưng...”. Giới thiền tăng “chưasạch mọc lông nhẫn nhục”, giới quan liêu “báonghĩ đầy người”, giới nho sĩ “Bàn bạc sự người”, ...tất cả đều là nguyên cớ để khi chết là những côhồn trở nên “đói ăn khát uống”, “phiêu lưu đòichốn”, “trầm luân địa ngục”, “cơ hàn đòi chốn”. Đốivới những cô hồn thuộc giới thương cổ, hoanương, giới đãng tử, bài kệ kết thúc của các phầnnày tác giả tỏ ra thương cảm và có phần trách cứnhiều hơn: “Kệ than rằng: Nức khí thiên hương áonhẹ sa/Làng Nam, ngõ Bắc thiếu nơi nhà/Đànhmàu lụa mặc hòng mua phấn/Ngất đống tiền ănđể chác hoa/Lẩn thẩn chẳng thương thân huyễnhóa/Chốc mòng những mãi sự giao ca/Tiếc xuânkhông tiếc, tiếc chẳng được/Ngày tháng ai hầu kẻđợi ta?” (Phần thứ tám Giới hoa nương).Cảm hứng chung của những bài kệ trongnhững tác phẩm có màu sắc Phật giáo thời Lý Trần là quan niệm mọi chuyện trong cõi vô thườngnhư cơn gió thoảng qua, bài học rút ra là hãy sốngan nhiên bằng cái tâm không vọng động với tấtthảy. Dẫu vậy, cuộc sống vốn là một dòng chảy bất S 4 (45) - 2013 - Di sn vn h‚a phi vt thtận, lúc hiền hòa, lúc cuồng nộ bởi những dòngthác mà mỗi cá nhân đơn lẻ không đủ sức phongtỏa. Như thấu tỏ sự nhỏ bé, mong manh của kiếpngười, những bài kệ của Lê Thánh Tông ngoàinhững chân lý nhuốm màu sắc chứng ngộ của thếgiới Thiền còn có những trăn trở, băn khoăn chonhững nỗi đau triền miên của con người nơi trầnthế chẳng bao giờ hóa giải hết. Tham vọng của bậcđế vương trong những bài kệ dường như lớn hơnnhững bài học về nhân nghĩa, về đạo đức, về trậttự vĩ mô mà những người dụng bút lông, kinhbang tế thế đang đeo đuổi.Cái nhìn chân thực về cuộc sống, sự rung cảmsâu xa về lẽ sống, về sự mong manh của kiếp ngườiđược khắc tạc trong những câu văn đăng đối.Dường như bậc chân nho cách chúng ta sáu thế kỉđã đem từng khúc ruột quặn đau của mình làmbút, trích từng giọt lệ rớm máu của mình làm mực,viết lên một tình tự nồng nàn da diết về nhữngkhổ đau của cõi nhân sinh. Đây là nỗi lòng nhà thơhay tiếng ngậm hờn cuộc sống hiện tại. Tuy viết đểdành cho cô hồn - thế giới người chết nhưng cũnglà lời khóc than cho những người đang sống có sốphận khổ đau dằn vặt nơi dương thế.4. Thay lời kếtCó một dòng mạch lớn hơn chảy tràn quanhững con chữ, vượt biên khỏi giới hạn của tamgiáo, vượt qua đường biên của lịch sử, của giới hạnvăn hóa thông thường. Đó là lòng yêu vô bờ đối vớicon người, là trái tim rung động với những nỗi đaumang tầm nhân loại. Tầm vóc của Lê Thánh Tông vềphương diện đóng góp văn chương, theo chúng tôilớn hơn những gì mà lịch sử nghiên cứu văn họcnước nhà đã xác lập. Ở Thập giới cô hồn quốc ngữvăn, chất nghệ sĩ trong con người hoàng đế đượcthể hiện phong phú, dư ba hơn nhiều so với nhữngbài thơ xướng họa nơi gác tía lầu son. “Thập giới côhồn quốc ngữ văn là một bài biền văn vào loại khánhất và vào loại có giá trị trong nền văn học cổ đạinước ta”8. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn là một tácphẩm văn học Nôm quí giá của lịch sử văn chươngdân tộc. “Ở thế kỉ XV, có được một bài biền văn nhưbài này thật đáng quí. Bài Thập giới cô hồn quốcngữ văn được sáng tác khá công phu. Chúng ta cóthể tự hào có một bài văn hay trong phần văn họcNôm thời cổ đại”9. Một điều đáng ngưỡng mộ hơncả ở bậc vĩ đại Lê Thánh Tông là người đã phả vàonhững trang biền văn Nôm dư vị của chủ nghĩanhân văn cao cả. Điều mà, đến tận thế kỉ XVIII cáctác giả văn chương Việt Nam mới thực sự quan tâmthỏa đáng./.H.T.T.MChú thích:1- Theo: Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm (biênsoạn) (2012), Các thể văn chữ Hán Việt Nam, Nxb. Khoa học xãhội, tr. 19.2- Danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tínhtừ đối với tính từ, hư từ đối với hư từ. Cổ nhân không có kháiniệm về từ tính nhưng vẫn mặc nhiên thực hiện như vậy.3- Xem: Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm (biênsoạn) (2012), Các thể văn chữ Hán Việt Nam, Nxb. Khoa học xãhội, tr. 18 - 23.4- Theo chúng tôi, tác giả đặc biệt có hứng thú và dụngtâm coi trọng Phần thứ tư Giới nho sĩ, Phần thứ sáu giới lươngy, phần thứ bảy Giới tướng quân. Bởi lẽ, lăng kính của LêThánh Tông là lăng kính của người chuộng Nho và quan tâmnhất đến những cánh tay phù trợ cho sự hưng thịnh củachính quyền mà người cai trị: Nho sĩ, quan liêu, tướng quân…5- Lời của Lưu Hiệp trong mục Sự loại sách Văn tâm điêulong, dẫn theo: Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm (biênsoạn) (2012), Các thể văn chữ Hán Việt Nam, Nxb. Khoa học xãhội, tr. 21.6- Chữ dùng của GS. Bùi Duy Tân trong Lê Thánh Tông con người và sự nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia, 1997, tr. 114.7- Riêng phần thứ hai Giới đạo sĩ sau chữ “Hỡi ơi!” khôngthấy có hai câu dạng này như chín phần khác.8- Phần Phụ lục của cuốn: Phạm Trọng Điềm, Bùi VănNguyên phiên âm - chú giải - giới thiệu (1962), Hồng Đức quốcâm thi tập, Nxb. Văn hóa, tr. 274.9- Phần Phụ lục cuốn: Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyênphiên âm - chú giải - giới thiệu (1962), Hồng Đức quốc âm thitập, Nxb. Văn hóa, tr. 284.Tài liệu tham khảo1- Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm (biên soạn)(2012), Các thể văn chữ Hán Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội.2- Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia(2000), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nxb. Khoa họcxã hội.3- Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên phiên âm - chúgiải- giới thiệu (1962), Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb.Văn hóa.91