TAM CƯƠNG NGŨ THƯỜNG TRONG NHO GIÁO

  -  

*


Một số tư tưởng Triết học của Nho giáo ảnh hưởng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam

1. Sơ lược về Nho giáo du nhập vào Việt Nam

Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ "Nho". Theo Hán tự, "Nho" là chữ "nhân" (người) đứng cạnh chữ "nhu" (cần, chờ đợi). Nho gia còn gọi là nhà Nho - người đã đọc thấu sách thánh hiền - được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời để ăn, ở cho hợp luân thường đạo lý. Trước thời Xuân Thu, nhà Nho được gọi là "Sĩ", chuyên học văn chương và lục nghệ để góp phần trị vì đất nước. Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và trí thức trước đây thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo. Người đời cũng đã gắn học thuyết này với tên người sáng lập ra nó, gọi là Khổng học.

Bạn đang xem: Tam cương ngũ thường trong nho giáo

*

Một tác phẩm hội họa về Khổng Tử, của họa sĩNgô Đạo Tử(680–740) thời kỳNhà Đường

Là ý thức hệ của giai cấp phong kiến. Nho giáo không những ảnh hưởng sâu rộng ở Trung Quốc mà còn ảnh hưởng ở nhiều nước, như: Nhật Bản, Triều Tiên, Singapor,… và Việt Nam.

Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam, theo lịch sử Việt Nam thì Nho giáo du nhập vào nước ta vào đầu công nguyên cuối thế kỷ thứ hai, tương đối phổ biến đến thế kỷ thứ VII - VIII thì thịnh hành. Những nhân vật du nhập Nho giáo vào nước ta được sử sách ghi chép có Tích Quang Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp (thế kỷ II), Đào Hoàng (thế kỷ III), Đỗ Tuệ Độ (thế kỷ IV-V).

Cuối thế kỷ II sĩ phu nhà Hán sang Giao Chỉ khá đông, kinh điển Nho giáo đã bắt đầu giảng dạy.

Khoa thi của phong kiến bắt đầu từ thời Lý Nhân Tông, Thái Ninh thứ 4 (1075) khoa cuối cùng là năm Khải Định thứ tư (1919), gồm 844 năm, 187 khoa, có 2991 ông đỗ tiến sĩ.

Cuối đời Trần, Phật giáo bị Nho giáo công kích và nhường chỗ cho tôn giáo. Những hiện tượng Nho giáo đứng ra công kích Phật giáo lúc bấy giờ có Trương Hán Siêu (Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp ký), Lê Quát (bài văn bia ở chùa Thiện Phúc ở Bái Thôn, lộ Bắc Giang, Bắc Giang Bái Thôn, Thiệu Phúc tự bia ký).

Đến đời Lê Thái Tôn (thế kỷ XV) nhà nước đã dựng bia tiến sĩ và Nho giáo đã trở thành quốc giáo.

Đến thời kỳ Trịnh - Nguyễn nội bộ phong kiến lục đục mâu thuẫn ngày càng sâu sắc. Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trở thành đối tượng của phong trào nhân văn ở thế kỷ XVIII - XIX.

Đến đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn ra sức phục hồi Nho giáo. Tổ chức thi cử ngày một nhiều (Thành Thái một năm mở 7 khoa thi). Sách vở giải thích về kinh điển Nho giáo ra đời rất nhiều. Nhà Nguyễn ban hành bộ Luật Gia Long để hậu thuẫn cho tư tưởng Nho giáo.

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, Nho giáo đã tỏ ra bất lực. Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta. Nho giáo càng tỏ ra lỗi thời, hầu như chỉ than vãn nhiều cho số phận và tất cả lại dồn hết cho "Thiên mệnh".

2. Một số tư tưởng triết học của Nho giáo ảnh hưởng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam

a. Thuyết Thiên mệnh trong Nho giáo

Khổng giáo cho rằng mỗi cá nhân con người đều có số mệnh định sẵn. Con người không thể cưỡng lại với số mệnh được. Một người tốt theo quan niệm của Khổng giáo là tuân thủ theo số phận. Khổng giáo đề cao "an phận thủ thường".

"Từ sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên" (Sống chết có số phận, giàu là do trời định) (Luận ngữ, Nhan Uyên, 5).

"Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (không biết mệnh không thể là người quân tử được) ("Luận ngữ", Nghiêu viết, 3). Đã tin có mệnh, biết mệnh thì phải sợ mệnh và thuận mệnh.

Ông còn cho rằng: Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh trời, mà bị phế vong, cũng là do mệnh trời ("Luận ngữ", Hiến Vấn., 38), "làm sao có thể cải được mệnh trời?".

Trong quan điểm về thế giới, Mạnh Tử đã phát triển tư tưởng "Thiên mệnh" của Khổng Tử và đẩy thế giới quan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm, Mạnh Tử cho rằng: "Chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh Trời. Mình nên tuỳ thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy…" (Mạnh Tử, tân tâm thượng 1, 2). V.v …

Có thể nói rằng "Triết lý thiên mệnh " nằm trong học thuyết của Khổng Tử ở phần tâm truyền - hình nhi thượng học, tức là cái học thuộc về siêu hình rất cao viễn, được lý giải ở Kinh Dịch và sách Trung Dung.

Nhìn chung, thuyết "Thiên mệnh" trong Nho giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người Việt Nam và nó cũng đã thể hiện rõ nét trong nền văn học của đất nước ta mà điển hình nhất là "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu, văn chương của Nguyễn Công Trứ,…

b. Người quân tử trong Nho giáo

Theo Nho giáo, người quân tử là con người mẫu mực, gương mẫu và lý tưởng mà Khổng Tử luôn luôn chú tâm gây dựng cho người đời noi theo. Trong xã hội có 02 dạng người: quân tử là quý, là hay; tiểu nhân là tiện là dỡ. Quân tử là người có đức hạnh tôn quý; tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ. Do hạn chế lập trường giai cấp của mình mà Khổng Tử cho rằng chỉ có người quân tử (tức là giai cấp thống trị) mới có thể có đức "Nhân". Còn kẻ tiểu nhân (tức là nhân dân lao động) không thể có được đức "Nhân". Đạo lý này khi du nhập vào Việt Nam thì được biến cải đi. Các Nho gia Việt Nam cho rằng: dẫu có bần cùng khổ sở cũng là quân tử, mà có quyền tước sang trọng vẫn là tiểu nhân như thường, và được cụ thể ra:

Nho quân tử là người học đạo thánh hiền để sửa mình cho thành người có phẩm giá tôn quí, dẫu bần cùng cũng không làm điều trái đạo.

Nho tiểu nhân là người mượn tiếng học đạo thánh hiền để cầu danh, cầu lợi, miệng nói những điều đạo đức mà bụng nghĩ làm những việc bất nhân, bất nghĩa.

Quân tử hiểu suốt đến cái lẽ cao xa, rồi chọn cái vừa phải mà theo, cho nên mới "trung dung ". Tiểu nhân chỉ biết cái tư lợi mà không biết cái lý cao xa, cho nên chỉ làm những việc tầm thường mà thôi, thành ra bao giờ cũng phải trung dung.

Quân tử cầu ở mình, tiểu nhân cầu ở người.

Quân tử thư thái mà không kiêu căng, lo đạo không lo nghèo, nghiêm trang mà không nhàm với ai, hợp quần với mọi người mà không bè đảng, không nịnh với người trên, không coi thường người dưới, lấy nghĩa làm cốt; lấy lễ mà làm;… Đạo của người quân tử "nhạt mà không chán, giản dị mà có văn vẻ, ôn hoà mà hợp lý, thấy điều thiện phải cố làm như là theo không kịp, thấy điều bất thiện thì phải sợ hãi như thò tay vào nước sôi".

Xem thêm: 6 Bài Học Về Hạnh Phúc Đích Thực By Thich Nhat Hanh, Hạnh Phúc Đích Thực

Trong các kinh sách của Nho giáo không có thiên nào, chương nào giành để minh giải riêng về người quân tử, chỉ thấy nói đến mẫu người ấy rãi rác mà rất nhiều ở sách Luận Ngữ và một số ít ở sách Trung Dung, Kinh Dịch. Đại để đó là một phẩm giá tuyệt vời, một nhân cách cực cao, cực thượng, thấu triệt lẽ trời và thông suốt sự tiếp vật, xử thế trên cõi đời này.

Ngoài cái đạo người, quân tử là một phần của hình nhi hạ, cái học công truyền của Nho giáo, ta còn thấy trong phần này, Nho giáo có nhắc đến rãi rác những ý niệm, đạo lý mà sau này các Nho gia đúc kết thành: tam cương - ngũ thường; tam tòng - tứ đức, những giáo lý hệ thuộc mà tối quan yếu, Nho gia cốt truyền dạy cho hậu thế.

c. Tam cương - ngũ thường trong Nho giáo

Nho giáo thời Hán khác nhiều so với Nho tiên Trần. Quan điểm chính trị - xã hội phát triển và ý thức đẳng cấp khắc nghiệt, thế giới quan mang tính chất thần bí phục vụ cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền nhà Hán.

Tiêu biểu cho Hán Nho là Đổng Trọng Thư (197-104 TCN). Ông đã hệ thống hóa các quan điểm Khổng Tử - Mạnh Tử - Tuân Tử về các mối quan hệ xã hội và phẩm chất của con người. Đề ra lý thuyết "Tam cương", "Ngũ thường" gọi tắt là "Cương - Thường". Theo thuyết này con người sống trong xã hội cần phải:

+ Tuân theo Tam cương (Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ), trong đó người dưới phải tuyệt đối phục tùng người trên (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu).

+ Tuân theo Ngũ thường: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Tam cương, Ngũ thường là chuẩn mực đạo đức trong xã hội, là mô hình con người của thời Hán nói riêng, của xã hội phong kiến nói chung và nó cũng đã ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam.

- Tam cương: Cương là cái mối, cái giềng tức là cái dây chính, cái sợi, cái mà các dây con, các sợi con phải bám vào đó để giữ cho chặt trong một cái lưới, cái võng đan. Nói bóng, cương có nghĩa là cái chủ yếu, cái thế lực chính mà phần tử nhỏ, thành phần yếu phải gắn liền và bám sát vào.

Trong Nho giáo, Tam cương là: Quân vi thần cương: ý nói Vua là cái giềng của bề tôi. Phụ vi tử cương: Cha là cái giềng của con. Phu vi thê cương: Chồng là cái giềng của vợ. Tam cương xác định ba tương quan, liên hệ cốt yếu mà tuỳ thuộc vào nhau giữa các cá nhân trong quốc gia, xã hội và gia đình. Bề tôi tùy thuộc vua và có bổn phận trung với vua. Con tùy thuộc cha và có hiếu với cha. Vợ tùy thuộc chồng và phải trinh thuận với chồng.

Trong tam cương, Khổng Tử thường đề cập đến chữ hiếu nhiều hơn hết. Cái gốc của đạo nhân là ái và kính, v.v..

- Ngũ thường: thường là cái hằng có, luôn luôn phải theo, cái phổ biến ở mọi thời, mọi chỗ. Năm thường là gì? Đó là năm đức tính mà Nho giáo đề cao và xem như 5 đạo ăn ở con người phải hằng có: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Ta có thể hiểu như sau: Nhân là lòng yêu thương, tình bác ái. Nghĩa là cảnh ứng dụng cái nhân ấy để cư xử cho phải phép với các hạng người thân, sơ. Lễ là tỏ lòng tôn kính bằng cách tuân theo các nghi thức thích hợp có khuôn khép. Trí là áp dụng sự hiểu biết, sự kinh nghiệm để hành động. Tín là thành thật với mọi người để họ tin mình. Đó là những đức tính mà mọi người đều cần có để tu thân mà hành động và còn để cư xử với người ngoài.

Có khi người ta còn hiểu ngũ thường là ngũ luân. Luân là đạo ăn ở. Có năm luân tức là năm đạo ăn ở theo năm liên hệ giữa người và người trong xã hội (ngoài ba liên hệ tam cương trên, phải thêm hai nữa: anh em và bè bạn mới đủ ngũ thường). Anh em cũng có thang bậc, trên dưới. Bè bạn phải tin nhau, giúp nhau. Con người sống trong cộng đồng quốc gia, tổ chức gia đình nên phải lo duy trì và phát triển các đức tính, các mối quan hệ ấy để bảo đảm sự tồn tại vững chắc của nền trật tự xã hội. Trong nhà phụ từ - tử hiếu, phu xướng - phụ tùy, anh nhường - em kính. Trong nước vua hiền - tôi trung; bè bạn, đồng bào tin yêu nhau. Kinh Dịch có nói: "Có thiên địa rồi sau có vạn vật. Có vạn vật rồi sau có nam, nữ. Có nam, nữ rồi sau có phu phụ. Có phu phụ rồi sau có phụ tử. Có phụ tử rồi sau có quân thần. Có quân thần rồi sau có bề bậc lễ nghĩa". Tuy nhiên, "Ngũ luân" và "Ngũ thường" là hai phạm trù khác nhau. Ngũ luân là năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội, còn ngũ thường là năm đức tính, năm chuẩn mực của người quân tử,… Nhưng trật tự dẫn chứng ở đây là một trật tự chứng minh những liên hệ mật thiết với nhau từ hẹp đến rộng, từ gần đến xa mà mọi người phải xem đó như chính là sự giao tiếp cư xử với nhau từ gia đình ra xã hội, quốc gia vậy. Trong đó cuối cùng và quan trọng nhất là chữ Trung (rút ra từ Trung - Hiếu và Trung - Hiếu cũng rút ra từ hai mối quan hệ Quân - thần, phụ tử). Ngay phần mở đầu Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã viết: Trai thời trung hiếu làm đầu. Hay Nguyễn Công Trứ cũng đã nói: Nho gia đề cao chữ Trung vì xưa nay chỉ có Trung mà bất hiếu, chứ đâu có vì chữ hiếu mà bất trung. Tất cả là nhằm: bề tôi đều phải có nghĩa vụ trung với vua.

d. Tam tòng, tứ đức trong Nho giáo

Các kinh sách của Nho giáo chẳng thấy nói rõ và nói nhiều đến các ý niệm này. Nhưng trong nền văn chương quốc âm chúng ta trước đây thì thấy được nhắc đến luôn khi nói đến người phụ nữ Việt Nam gương mẫu. Thí dụ ta chỉ thấy một tập sách của Hậu Nho đời nhà Hán nói "Phụ nhân hữu tam tòng chi nghĩa, vô chuyên nhất chi đạo. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử". Đó là một công thức trau giồi đức hạnh cho người phụ nữ, hay ta thấy thêm ở trong "Nữ tắc diễn ca" bằng văn nôm:

Phải cho tứ đức vẹn tuyền

Công dung ngôn hạnh giữ gìn dám sai

Rõ ràng, toàn bộ hoạt động của người phụ nữ được gói gọn trong công thức "Tam tòng, tứ đức". Tam tòng là ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con ("theo" ở đây nó có nghĩa bao hàm của sự phụ thuộc, sự tuân thủ). Còn tứ đức là công - dung - ngôn - hạnh. Ta có thể hiểu: "Công" là những công việc bếp núc, vá may, thêu dệt,… "Dung" là nhan sắc, thân thể, mặt mày, dáng đi, điệu đứng,… Nhưng ta còn phải hiểu thêm nó bao hàm cả dung nhan tinh thần, bộ mặt với sắc thái của tâm hồn của người phụ nữ nữa. "Ngôn" là lời nói, tiếng cười,… Còn "Hạnh" là một đức tính tổng quát, có thể nói bao gồm tất cả các điều trên. Mặc dù đây chỉ là một điều chỉ về tinh thần nhưng được xuất hiện và biểu lộ ở con người phụ nữ bằng ba đức tính nói trên.

Gọi là "tứ đức", chứ chỉ riêng có "Hạnh" mới là một đức tính làm thành cái đẹp trong tính nết, đạo đức, tinh thần, tình cảm người con gái.

Tóm lại, Triết học Trung Quốc nói chung, Triết học Nho giáo nói riêng là nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đời, phong phú về tính chất, đa dạng về khuynh hướng và nó đã ảnh hưởng từ rất lâu đời ở nước ta.

Đối với Việt Nam dù ít, dù nhiều gần 2.000 năm chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cho đến ngày nay trong xã hội, trong cuộc sống và tinh thần của người Việt Nam vẫn còn mang dấu ấn Nho giáo khá rõ nét. Vì vậy, cần phải nhận thức rõ về mặt tích cực, tiêu cực của Nho giáo để mà phê phán, để mà chọn lọc kế thừa, hầu làm phong phú hơn đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt là góp phần thúc đẩy xã hội phát triển trong điều kiện mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay./.

Leõ Bình Nguyeõn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lịch sử Triết học phương Đông tập 1 (5 tập) của Nguyễn Đăng Thục. Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh 1997.

2. Giáo trình Lịch sử Tư tưởng phương Đông và Việt Nam. Đại Học Huế. Nhà xuất bản Giáo dục 2001.

3. Đại cương lịch sử Triết học Phương Đông cổ đại- Doãn Chính. Nhà xuất bản thanh niên Hà nội 2003.

Xem thêm: Những Nghịch Lý Thời Hiện Đại, Bài Giảng Thầy Thích Phước Tiến Mới Nhất 2020

4. Đại cương Triết học sử Trung Quốc - FungYu-Lan (Bản dịch: Nguyễn văn Dũng). Nhà xuất bản thanh niên - Trung tâm nghiên cứu quốc học 1999.