Nhân chi sơ tánh bổn thiện

  -  

1. Nhân chi sơ , tính bản thiện là gì ?

Nhân chi sơ, tính bản thiện hay còn viết là Nhân chi sơ, tính bổn thiện là đạo lý mở đầu trong quyển Tam Tự Kinh (Tam Tự Kinh( 三字經)là cuốn sáchchữ Hánđược soạn từ đời Tống, đến đời Minh, Thanh được bổ sung. Sách được dùng để dạy học cho học sinh mới đi học. ỞViệt Namtrước đây cũng dùng sách này. Nội dung cuốn sách hơn 1000 chữ, bố trí ba chữ một câu có vần. Hiện nay những người họcchữ Háncũng học nó để có số vốn 600 chữ để rồi tiếp tục học lên cao) của Trung Quốc, câu nói này được hiểu là Con người sinh ra bản tính ban đầu vốn thiện và tốt lành, khi lớn lên, do các yếu tố con người , xã hội , môi trường ảnh hưởng của mà tính tình trở nên thay đổi, tính ác có thể phát sinh, do đó cần phải luôn được giáo dục, giữ gìn và rèn luyện cho đời sống lành mạnh thì tính lành mới giữ được và phát triển, để tính dữ không có điều kiện nảy sinh. Tư tưởng của củaKhổng Tử, và được các học trò của ông nhưMạnh Tửghi chép truyền đạt lại về sau, và tư tưởng đạo lý này được tồn tại, giáo dục trong Nho giáo, trái ngược với câu nóiNhân chi sơ tính bổn áccủaTuân Tử.

Bạn đang xem: Nhân chi sơ tánh bổn thiện

Nhân chi sơ, tính bổn thiện: 人之初,性本善Đây là một tư tưởng của của Khổng Tử, và được các học trò của ông như Mạnh Tử ghi chép truyền đạt lại về sau, và tư tưởng đạo lý này tồn tại ở giáo dục trong Nho giáo, trái ngược với câu nói Nhân chi sơ tính bổn ác của Tuân Tử.
人之初,性本善rén zhī chū, xìng běn shànNhân chi sơ; Tính bản thiện.性相近,习相远xìng xiāng jìn, xí xiāng yuǎnTính tương cận; Tập tương viễn.苟不教,性乃遷;gǒu bù jiāo, xìng nǎi qiānCẩu bất giáo; Tính nãi thiên.教之道,貴以專jiào zhī dào, guì yǐ zhuānGiáo chi đạo; Quí dĩ chuyênNgười ta lúc đầu vốn có cái tính tốt lànhTính ấy gần giống nhau nhưng do thói tục mà khác nhauNếu không dạy thì cái tính ấy thay đổi.Cách giáo dục là lấy chuyên làm trọng.

Xem thêm:


*

2. Trong "Nhân chi sơ tính bản thiện" củaMạnh Tử, chữ Thiện ở đây có phải làlương thiệnhay còn có nghĩa khác ?

Chữ THIỆN trong “tính bản thiện” không phải là khái niệmthiện áctương đốitrongtục đếmà là tínhhoàn hảotrongchân đế. Chữ SƠ trong “nhân chi sơ” cũng không có nghĩa là trẻ sơ sinh, mà làbản nguyêncủacon người. Không phải chỉ người mà bất cứ gì "sơ" như nó vốn là chưa qua tưởng là, cho là, muốn phải là, mong sẽ là… cũng đềuhoàn hảo.- Nói cách khác,bản nguyêncủa các pháp đềuhoàn hảo.Thí dụnhư cái hoa này là như vậy, nóhoàn hảotrong chính nó, còn như nói hoa này xấu hay đẹp, to quá hay nhỏ quá v.v... làý niệmmỗi ngườixen vào. Bất kỳ pháp nào đúng nhưbản chấttự nhiêncủa nó đều làpháp thực tướng, thực tánh. Còn cái gì qua tưởng là, cho là, phải là, sẽ là… đều không còn “chi sơ” nữa. Tất cả cái "chi sơ" như đá chi sơ, nước chi sơ... đều là thực tánhbản nguyênhoàn hảocủa chính nó, làchân đế.- Khi đặt thêm cho nó khái niệm này khái niệm nọ là đãtrở thànhpháp chếđịnh,tục đế.Con ngườithường muốn mọi sựmọi vật“hoàn hảo” theotư kiến,tư dụccủa mình nên biến chúng trở nên bất toàn. Ví dụ trái mít lúc non, lúc già, lúc chín thì lúc nào là hoàn hảo? Người thích ăn mít chín thì cho lúc chín làhoàn hảo, người muốn mít non để nấu canh thì cho lúc non làhoàn hảo. Nhưngthực ramọi khoảnh khắc của trái mít đềuhoàn hảovới thời-vị-tính của chính nó.

Xem thêm:

3. “Nhân chi sơ tính bản ác” của Chu Tử hiểu như thế nào cho đúng ?

Dohiểu lầmchữ sơ và chữ thiện trong “Nhân chi sơ tính bản thiện” củaMạnh Tửnhư đã nói trên, nên Chu Tử mới phản biện thành “nhân chi sơ tính bản ác”.Mạnh Tửnói theosự thậtrốt ráo(chân đế) còn Chu Tử lại hiểu theosự thậttương đối(tục đế).- Trongchân đếmọi sự vật đúng vớithời gian,không gianvàtính chất“gốc” (thời-vị-tính) của nó nên luônhoàn hảotrong chính nó. Trong khi Chu Tử nói theosự thậttương đối(tục đế) nênphân biệtthiện với ác của đứa bé sơ sinh. Ví dụ trongchân đế"tâm sân" và "tâm từ"Mạnh Tửđều chỉ thấy đúng với thời-vị-tính như nó đang là, còn Chu Tử thì lạiphân biệtthiện-ác, đúng- sai theo khái niệm chế định. Mặc dù sống trongtục đếnhưng quan trọng là thấy được thực tánh. Ví dụ tâm sân haytâm từđều thấy thực tánh gốc "chi sơ" là thấy thực tánh. Cho nên có câu "nghiên cơ ư tâm ý, sơ động chi thời", muốn biết thực sự tâm mình là gì thì phải thấy ra khi tâm mới động lên hoặc chỗ từ đó tâm khởi động. Thấy tâm "sơ động chi thời" cóhai nghĩa, một là thấy được tâm lúc mới động lên và hai là thấy được cả tâm lúc chưa động lên. Ví dụ tâm rỗng lặngtrong sángthì thấy rỗng lặngtrong sáng, tâm khởi sân thì thấy khởi lên tâm sân.Lão Tửgọi đó là “căn” nơi động lên rồitrở vềcủa tâm: “Các phục quy kỳ căn”. Đó chính là“tự tánh bản nguyên" của tâm mỗi người.- Thời Bách gia chư tử bênTrung Quốccó hàng trămtư tưởngtranh luậnvới nhau, người nói "hữu" người nói "vô", người nói "thiện" người nói "bất thiện" v.v...Thí dụthuyết kiêm ái và thuyếtvị kỷcái nào đúng?Mặc Tửnói nếu được mài từ đầu đến chân màlợi íchchothiên hạthì ông sẵn sàng để cho mài. Còn Dương Tử nói dù nhổ một sợi lông mà lợi chothiên hạthì cũng không nhổ, người ta cho ông này làích kỷ,vị ngã. Xét cho cùng, kiêm ái chưa hẳn đã tốt,vị kỷchưa hẳn đã xấu. Nếu mỗi người phải tự học bài học của mình trongcuộc đời, thì kiêm áilắm khilàm cho người ta sốngỷ lạivà mất đi khả năng tiến hoá. Nếu mỗi người biết lo tự toàn chính mình thìxã hộitự nhiênổn định vàtốt đẹphơn. Cho nênvị kỷhayvị thađều có mặt tốt mặt xấu của nó. Người trí biết khi nào nênvị kỷlúc nào nênvị tha, không bao giờ chủ trương một chiều cố định. Đó làlý dovì sao trongKinh Mật Hoànđức Phậtnói Ngài khôngtranh luận, dù thời bấy giờ cácĐạo SưẤn Độthường luận biện như “chẻ sợi tóc làm tư”.