NAM THIỆM BỘ CHÂU

  -  

Rất nhiều người học Phật tò mò hỏi về núi Tu Di, rằng thật sự có ngọn núi này không và có thì nó nằm ở đâu trên thế giới này? Có nhiều lời giải thích rằng, núi Tu di chỉ là một biểu tượng, tượng trưng cho sự to lớn, vĩ đại. Cũng như trong kinh Phật hay dùng thuật ngữ cát sông Hằng (hằng hà sa số) để chỉ về số nhiều, không tính đếm hết, thì Núi tu di là biểu tượng chỉ về số lớn, cao to vĩ đại. Số cát sông Hằng tượng trưng cho trần lao phiền não hằng hà sa số thì núi Tu di được ví như lòng ngã mạn, tự cao tự đại của con người.

Bạn đang xem: Nam thiệm bộ châu

Theo vũ trụ quan Phật giáo, vũ trụ không chỉ có một thế giới này mà còn có hằng hà sa số thế giới khác cùng tồn tại. Núi tu di và tứ châu thiên hạ được mô tả rõ trong các bản kinh như: Kinh thế ký, thuộc Trường a hàm; và Kinh tứ châu, của Trung a hàm, và cũng thấy mô tả trong các tạng luật và luận, trong đó A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của ngài Thế Thân cũng có nói về ngọn núi vĩ đại này.

1. Núi tu di (Sineru)

Theo Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt (Wikipedia), Núi Tu-di, tiếng Phạn là Sumeru, Pāli là Sineru. Đây là một ngọn núi thiêng với năm đỉnh, được đề cập trong vũ trụ học của Ấn Độ giáo, Kỳ-na giáo và Phật giáo,<1> và được xem như là trung tâm của tất cả các vũ trụ thuộc vật lý, siêu hình và tinh thần.

Núi Tu-di là một phần của Đại dương Vũ trụ, với nhiều tài liệu nói rằng, ‘Mặt trời cùng với các hành tinh bay vòng quanh ngọn núi,’ làm cho việc xác định vị trí của nó, theo phần lớn các học giả, là cực kỳ khó khăn.<2> Một vài nhà nghiên cứu xác định núi Tu-di chính là dãy núi Pamir, ở tây bắc Kashmir.<3>

Sách Suryasiddhanta chép rằng núi Tu-di nằm ở ‘trung tâm trái đất’ (‘bhurva-madhya’) trong vùng đất Jambunad (Jambudvip). Narpatijayacharyā, một cuốn kinh ở thế kỷ thứ 9, phần lớn dựa trên những văn thư không công bố của Yāmal Tantr, chép rằng ‘Sumeruḥ Prithvī-madhye shrūyate drishyate na tu’ ('Núi Tu-di được nghe nói là ở trung tâm trái đất, nhưng không thấy ở đó').<4> Vārāhamihira, trong sách Pancha-siddhāntikā, nói rằng núi Tu-di nằm ở Bắc Cực (mặc dù chẳng có ngọn núi nào ở đó cả). Tuy nhiên, Suryasiddhānta cho rằng núi Tu-di nằm ở trung tâm trái đất, ở 2 cực là Sumeru và Kumeru.<5>

Có nhiều phiên bản về vũ trụ học tồn tại trong kinh điển của đạo Hindu. Một trong số chúng miêu tả núi Tu-di được bao quanh bởi núi Mandrachala ở phía đông, núi Supasarva ở phía tây, núi Kumuda ở phía bắc và núi Kailasha ở phía nam.<6> Một tài liệu khác nói rằng núi Tu di được bao quanh bởi bảy dãy núi -Yugandhara, Isadhara, Karavīka, Sudassana, Nemindhara, Vinataka và Assakanna.<7>

Theo Kinh Thế Ký, thuộc Trường A Hàm, mô tả về núi Tu di: “Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành khắp bốn thiên hạ, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường ác, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời Đao-lợi, ngàn trời Diệm Diệm-ma, ngàn trời Đâu-suất, ngàn trời Hóa tự tại, ngàn trời Tha hóa tự tại, ngàn trời Phạm ; đó là tiểu thiên thế giới. Như một tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một trung thiên thế giới. Như một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một tam thiên đại thiên thế giới. Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật.”<8>

Tiếp tục Đức Phật giải thích: “Cõi đất này dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió dày sáu ngàn bốn mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước của biển lớn ấy sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa Tu-di, phần chìm xuống biển là tám vạn bốn ngàn do-tuần; phần trên mặt nước cao tám vạn bốn ngàn do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất cứng chắc. Núi ấy thẳng đứng, không có lồi lõm, sanh các loại cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp núi rừng, là nơi mà phần nhiều các Hiền thánh, các trời đại thần diệu. Móng chân núi toàn là cát vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra, cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được tạo thành bởi bảy báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn cong sát mặt biển.”<9>

Đức Phật giải thích thêm về cấu trúc, y báo chánh báo của núi chúa Tu di. “Núi chúa Tu-di có đường cấp bằng bảy báu; đường cấp ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây; tường vàng thì cửa bạc, tường bạc thì cửa vàng; tường thủy tinh thì cửa lưu ly, tường lưu ly thì cửa thủy tinh; tường xích châu thì cửa mã não; tường mã não thì cửa xích châu; tường xa cừ thì cửa các báu. Còn lan can thì cây ngang vàng thì cây dọc bạc, cây ngang bạc thì cây dọc vàng; cây ngang thủy tinh thì cây dọc lưu ly, cây ngang lưu ly thì cây dọc thủy tinh; cây ngang xích châu thì cây dọc mã não, cây ngang mã não thì cây dọc xích châu; cây ngang xa cừ thì cây dọc các báu. Trên lan can ấy, có lưới báu. Ở dưới lưới vàng ấy có treo linh bạc. Dưới lưới bạc, treo linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh. Dưới lưới thủy tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não. Dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh các báu. Còn cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá, hoa, quả bạc. Còn cây bạc thì rễ bạc, cành bạc, lá hoa quả vàng. Còn cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy tinh; hoa, lá, lưu ly. Còn cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly; hoa, lá thủy tinh. Còn cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu; hoa, lá mã não. Còn cây mã não thì rễ nhánh mã não; hoa, lá xích châu. Còn cây xa cừ thì rễ, nhánh xa cừ; hoa lá các báu.” “Trên đảnh núi Tu-di có cung trời Tam thập tam, có bảy vòng thành, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.”<10>

Thuật ngữ thường sử dụng cho chuỗi các hành tinh gọi là hệ ngân hà, dãi ngân hà, trên thực tế đó chỉ là một đơn vị thế giới mà trong Phật pháp thường gọi. Kinh Phật nói đơn vị thế giới lấy núi Tu Di làm trung tâm, thái dương xoay vòng theo núi Tu Di. Có người nói: “Núi Tu Di có thể là lỗ đen mà thiên văn đã phát hiện”. Lỗ đen đó ngày nay chúng ta gọi là trung tâm của vũ trụ, trung tâm của hệ ngân hà. Thái dương đích thực đang xoay quanh điểm này. Mặt trời, mặt trăng, các sao nhiễu quanh lưng chừng núi Tu-di, chiếu sáng Tứ thiên hạ. Bốn đại châu, mỗi châu đều có hai trung châu và năm trăm tiểu châu, bốn đại châu và tám trung châu đều có người ở, còn hai ngàn tiểu châu thì hoặc có người ở hoặc không có người ở.

Xem thêm: Cách Tính Trùng Tang Nhập Mộ Là Gì? Cách Tính Trùng Tang Năm 2021 Chính Xác

Theo A-tỳ-đạt-ma-câu-xá luận (Abhidharmakośabhāṣyam) của ngài Thế Thân (Vasubandhu), núi Tu-di cao 80.000 do tuần. Kích thước chính xác của một do tuần là không xác định, nhưng một vài tính toán cho rằng nó khoảng 24.000 foot (7.300 m), hoặc khoảng 4,5 dặm (7,2 km), nhưng những tính toán khác lại cho rằng nó nằm giữa 7–9 dặm (11–14 km). Nó còn phần chìm dưới sâu 80.000 do tuần so với bề mặt mặt nước bao quanh. Núi Tu-di thường được sử dụng như là một hình tượng ẩn dụ của kích thước và tính kiên cố trong kinh điển Phật giáo. Núi Tu-di được nói rằng có hình dạng giống như một cái đồng hồ cát, với đỉnh và đáy có diện tích rộng 80.000 do tuần, nhưng hẹp ở phần giữa (ở độ cao 40.000 do tuần) chỉ rộng 20.000 do tuần.<11> Trong quyển sách “Le Bouddhisme au Cambodge” Adhémar Leclere nói rằng, núi Tu di cao đến 84.000 do tuần, bề sâu dưới nước cũng 84.000 do tuần. Và bề ngang trên mặt nước cũng 84.000 do tuần. Trên đỉnh núi Tu di là cảnh giới của Đức Đế Thích.<12>

Sự hình thành của núi Tu di theo Kinh Thế Ký, Phẩm Tam Tai của Trường A Hàm nói: “Vì nhân duyên gì mà có núi Tu-di? Vì có cuồng phong nổi dậy, nên thổi bọt nước này tạo thành núi Tu-di, cao sáu mươi vạn tám ngàn do-tuần, dọc ngang tám vạn bốn ngàn do-tuần và do bốn báu tạo thành: vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly.”<13>

II. Tứ châu thiên hạ (Catur-dvipa)

Theo khoa cổ vũ trụ học Phật Giáo, và theo vũ trụ quan Ân Độ xưa có bốn châu trong thế giới Ta Bà, tứ hướng xung quanh núi Tu Di, trong vũ trụ (trái đất của chúng ta) có 4 châu:, Bắc Cu-Lư Châu (Uttara-kuru), Tây Ngưu-Hóa Châu (Godana) và Đông Thắng-Thần Châu (Purva-Videha) và Nam Thiệm-Bộ Châu (Jambudvipa). Bốn châu đó nằm chung quanh một hòn núi vĩ đại là Tu- Di Sơn (Menu, Sumeru), có y báo và chánh báo riêng biệt.

1. Bắc Câu-lô châu (Uttara-kura), cũng phiên âm là Uất-đơn-viết. Vì châu này nằm ở phía bắc núi Tu di nên gọi là Bắc câu lô châu. Kinh mô tả: “Phía Bắc núi Tu-di có một thiên hạ tên là Uất-đan-viết. Lãnh thổ vuông vức, ngang rộng một vạn do-tuần; mặt người cũng vuông, giống như hình đất.”<14>

Bắc Câu-lô châu (Uttara kuru, xưa gọi là Bắc Uất-đơn-việt): Câu-lô nghĩa là thắng xứ, vì đất đai cõi này thù thắng hơn ba châu nói trên nên được gọi là Bắc Câu-lô châu. Địa hình châu này có hình vuông, giống như cái ao vuông, khuôn mặt người cũng thế.

Trong tứ châu thì Bắc câu lô châu là châu giàu có và sung sướng nhất. “Ở đây giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc, họ tuy không có ngã tưởng, không có thọ dụng riêng.” Xứ Uất-đơn-viết, lúa mọc tự nhiên, người dân thường ăn loại thức ăn đó. Ngoài lúa thì còn có biết bao nhiêu loại cây quí báu, khoe đủ màu sắc ở trong lan can. Họ dùng thứ cây áo mà mặc. Nói chung cõi này sung sướng, toàn hưởng thọ dục lạc, nên rất khó tu. Bắc châu: không bị lệ thuộc, không có ngã sở, sống lâu ngàn năm. Quả báo ở Bắc Câu-lô châu rất thù thắng, vui nhiều khổ ít, nhưng không có Phật xuất thế, nên là một trong tám nạn. Trong câu lễ Phật hằng ngày chúng ta thường nghe: ‘Tam châu cảm ứng’, có nghĩa là trong bốn châu thì có ba châu có thể tu hành được, còn Bắc câu lô châu do sung sướng nên chúng sanh ở đây ham hưởng thụ không chịu tu hành, nên không cảm ứng đạo giao. Đức Phật kết luận sanh về Bắc câu lô châu là một cái nạn, vì ở đấy người chỉ biết đắm say theo vật dụng không phát đạo tâm và thường phải sa đọa.<15>

2. Đông Thắng Thân châu (Purva-Videha), cũng được dịch là Phất-bà-bệ-đà-đề, Pāli: pubbavideha, châu Thắng thân ở phương Đông. Kinh Thế Ký dạy: “Phía Đông núi Tu-di có một thiên hạ tên là Phất-vu-đãi; lãnh thổ tròn trịa, ngang rộng chín ngàn do-tuần. Mặt người cũng tròn, giống như hình đất.”<16>

Đông Thắng Thần Châu còn gọi là Bổ La Phược Vĩ Nễ Hạ, Phất Bà Đề, hay Phất Vu Đại, một trong bốn đại châu, châu nầy ở trong biển Hàm Hải, về phía đông núi Tu Di, hình bán nguyệt. Đông châu: châu này rất rộng, rất lớn, rất vi diệu. Châu này gọi là lục địa chế ngự ma quỷ, có hình bán nguyệt, dân trên đó cũng có khuôn mặt hình bán nguyệt. Châu này có chu vi là 21.000 do tuần, dân trong cõi nầy có thân hình tốt đẹp hơn hết, và sống thọ đến 600 tuổi.<17>

Người dân ở châu này có thân hình thù thắng nên gọi là Thắng Thân. Người ở cõi này thích đấu tranh, tranh giành của cải, cạnh tranh buôn bán. Cõi Phất-vu-đãi có một đại thọ, tên là Gia-lam-phù, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần.

3. Tây Ngưu-Hóa Châu (Godana), cũng được gọi là Cù-đà-ni, châu này nằm ở phía tây núi Tu di. “Phía Tây núi Tu-di có thiên hạ tên là Câu-da-ni, địa hình như nửa mặt trăng, ngang rộng tám ngàn do-tuần; mặt người cũng vậy, giống như hình đất.” Chúng sanh ở đây thích thương trường, buôn bán, nơi đây lấy bò trâu làm vật ngang giá để trao đổi hàng hóa. Ở Cù-đà-ni, giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc.

Xem thêm: Những Mẫu Tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát Đẹp Nhất, Những Bức Hình Đẹp Về Quan Thế Âm Bồ Tát

Tây Ngưu Hóa Châu hay Tây Lục Địa, nơi mà trâu bò sinh sản rất đông và được dùng như tiền tệ để trao đổi mua bán nên có tên là như vậy. Lục địa có hình tròn và dân trên đó cũng có gương mặt hình tròn. Châu nầy có chu vi 27.000 do tuần, dân sống thọ đến 500 tuổi.