Hồi Hướng Công Đức Niệm Phật

  -  

Thánh Nhân cầu tâm chẳng cầu phật, phàm nhân cầu phật chẳng cầu tâm.Chẳng biết bổn tâm, học pháp vô ích

 

 

 

Phải hồi hướng thế nào mới là như lí như pháp ?

 

 

*

 

 

Bất luận làm công đức gì đều nên có : trước hành phát tâm thù thắng, giữa hành vô duyên thù thắng, sau hành hồi hướng thù thắng. Nếu như chẳng có sau hành hồi hướng thù thắng thì bất luận là trồng thiện căn gì, bất luận là làm công đức gì, bất luận là tích những phước đức gì đều sẽ không có công đức viên mãn.

 

Sau khi làm công đức nếu như chẳng hồi hướng :

 

Thứ nhất, không thể tăng trưởng thiện căn, quả báo của công đức phước đức hưởng thụ một lần thì tiêu hết.

 

Thứ hai, công đức đã làm chẳng thể viên mãn.

 

Thứ ba, Công đức đã làm không ổn định, bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu đều có thể hủy diệt. Nếu như không kịp thời hồi hướng, chỉ cần sanh khởi tâm sân hận, tâm hối hận, tà kiến trong khoảnh khắc, hoặc tuyên nói trước mặt người khác thì những công đức đã làm đều sẽ tiêu mất.

Lại còn có kiểu điên đảo hồi hướng, chỗ không đáng hồi hướng lại hồi hướng, hồi hướng không như pháp, thậm chí muốn cậy vào thiện căn này để làm tổn hại người khác, như thế thì công đức cũng sẽ tiêu mất.

Do vậy lúc bình thường bất luận làm công đức gì, làm việc thiện gì, bất kể lớn nhỏ đều phải lập tức hồi hướng.

 

Nếu như bạn đã hồi hướng rồi, đặc biệt là hồi hướng cho chúng sanh, hồi hướng cho cái nhân tu thành quả bồ đề thì :

 

Thứ nhất, thiện căn thời thời khắc khắc đều có thể tăng trưởng, mãi cho đến chứng đắc quả bồ đề, quả báo của công đức hưởng thụ 100 lần, 1000 lần cũng sẽ không cùng tận, mỗi thời mỗi khắc đều sẽ tăng trưởng, công đức đã làm đều có thể biến thành nhân duyên chứng đắc vô thượng bồ đề.

 

Thứ hai, bất luận công đức, thiện căn lớn nhỏ đều có thể viên mãn.

 

Thứ ba, công đức vô cùng ổn định, công đức có nhỏ bé đi nữa cũng có thể tồn trụ, nào sợ sanh khởi tâm sân hận, tà kiến…công đức cũng sẽ không bị hủy diệt.

Số lần hồi hướng càng nhiều càng tốt, thời gian càng nhanh càng tốt, tốt nhất là lập tức hồi hướng. Hồi hướng cho bản thân và người nhà, oan thân trái chủ cũng được, tốt nhất là hồi hướng cho tất cả chúng sanh, bởi vì chúng sanh là vô lượng vô biên, hồi hướng như thế thì công đức của bạn cũng là vô lượng vô biên, đấy cũng là một loại phương tiện thiện xảo.

Cũng có thể hồi hướng cho bồ đề : nguyện công đức này trở thành nhân duyên để tất cả chúng sanh đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Hoặc là hồi hướng cho bản thân : Nguyện bản thân mình vì chúng sanh chứng đắc vô thượng bồ đề, nguyện công đức này trở thành nhân duyên bản thân mình tu thành chánh quả.

Khi làm sự hồi hướng tốt nhất là có sự nhiếp trì của trí tuệ chứng ngộ tam luân thể không.

 

Tam luân thể khôngbản thân người hồi hướng, thiện căn mà hồi hướng, đối cảnh hồi hướng đều quán là Không. Đứng trên góc độ tánh không diệu hữu để hồi hướng là sự hồi hướng viên mãn nhất thù thắng nhất.

Thế nhưng, hiện tai chúng ta vẫn chưa chứng ngộ tánh Không, rất khó làm được sự hồi hướng như thế này. Thế nhưng chúng ta có thể làm như vầy : chư phật quá khứ, vị lai, hiện tại làm hồi hướng như thế nào thì ta cũng làm hồi hướng như thế ấy.

 

Trong “ Phẩm hạnh nguyện của Phổ Hiền ” có :

 

“ Văn Thù Sư Lợi dũng mãnh trí,

Phổ Hiền Bồ Tát diệc phục nhiên,

ngã kim hồi hướng chư thiện căn,

tùy bỉ nhất thiết thường tu học ”

 

Văn Thù Bồ Tát hồi hướng như thế nào thì ta cũng hồi hướng như thế ấy. Phổ Hiền Bồ Tát hồi hướng như thế nào thì ta cũng hồi hướng như thế ấy. Sự hồi hướng như thế cũng có thể thay thế cho sự hồi hướng của Tam Luân thể không.

Trước hành phát tâm – phát bồ đề tâm

 

Giữa hành vô duyên – minh tâm kiến tánh, có sự nhiếp trì của đại trí tuệ chứng ngộ tam luân thể không.

Sau hành hồi hướng thù thắng.

 

Đối với một người tu hành chân chính thì 3 sự thù thắng này là tuyệt đối cần thiết. Nếu như có sự nhiếp trì của 3 sự thù thắng thì chỉ niệm một câu “ A Di Đà Phật ”, niệm một câu 6 chữ “ om ma ni pad me hum ” đều có thể trở thành nhân của sự giải thoát, thành phật.

Nếu như chẳng có 3 sự nhiếp trì thù thắng này, cho dù thiện căn đã làm có lớn đi nữa, công đức đã tích có nhiều thêm đi nữa cũng không thể trở thành nhân duyên giải thoát thành phật, chỉ có thể đắc được phước báo người, trời. Nếu như chỉ ở trên hình thức, bề mặt làm công đức, tích phước hành thiện nhưng khởi tâm động niệm lại là ác xấu, vậy thì đã tạo ác nghiệp rồi.

Thiện có thiện báo, ác có ác báo, chẳng thể có tí ti sai sót; bất luận là làm cái gì cũng đều có nhân quả, đều có quả báo, nhất định phải tự mình gánh chịu.

 

Tham khảo thêm

Ý NGHĨA HỒI HƯỚNG (Ấn Quang Đại Sư giảng)

 

*

 

I. Hồi hướng nghĩa là gì ?

* Hồi hướng là đem các công đức NIỆM PHẬT, tụng kinh, trì chú, trợ niệm,.... do chính mình đã tu (nếu để mặc , thì nhờ vào những công đức ấy, sẽ chỉ được hưởng các thứ phước báo trời người ) xoay cái nhân được hưởng phước báo trời người do công đức đã làm ấy gom về sự vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm cái quả siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, cho đến rốt ráo thành Phật trong tương lai. Hồi hướng chẳng phải chỉ nhằm hưởng phước trời - người mà thôi! (Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam giảng : Hồi hướng có nghĩa là gom về, tức là một phương pháp đem công đức niệm Phật, niệm kinh gom về một nơi. Gom về nơi nào? Gom về việc cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới!

Từ điển Phật học Huệ Quang: Hồi hướng là dùng thiện căn công đức tu hành của mình để hướng về mục đích hoặc tự làm lợi ích cho chính mình hoặc làm lợi ích cho chúng sanh khác).

Dùng một chữ Hồi nhằm thể hiện ý “quyết định, chẳng thuận theo thói tình thế gian”. Dùng một chữ Hướng nhằm thể hiện ý “quyết định mong mỏi phương cách xuất thế”. Đó gọi là “hồi nhân hướng quả, hồi sự hướng lý, hồi tự hướng tha”.

Công đức đã làm là cái nhân trời - người, xoay để hướng về quả Niết Bàn. Công đức đã làm là chuyện sanh - diệt; xoay nó lại để hướng đến diệu lý Thật Tướng bất sanh bất diệt. Công đức đã làm vốn thuộc tự hành, xoay nó lại để hướng về hết thảy chúng sanh trong pháp giới. Đấy chính là danh từ phát nguyện lập thệ, quyết định hướng đến.

Hồi hướng có ba nghĩa:

1) Hồi hướng Chân Như Thật Tế, tâm tâm khế hợp. Đây chính là nghĩa “hồi sự hướng lý”. 2) Hồi hướng Phật Quả Bồ Đề, niệm niệm viên mãn. Đây chính là nghĩa “hồi nhân hướng quả”.

3) Hồi hướng pháp giới chúng sanh cùng sanh Tịnh Độ. Đây chính là nghĩa “hồi tự hướng tha”.

 

(*) Ai nấy có chí riêng, người người có nghiệp riêng (nghiệp ở đây là thức nghiệp), nhưng tùy duyên tùy phận đều được vãng sanh cả, bất tất mọi người phải giống hệt nhau. Chú thích:

(*) Hòa thượng Tuyên Hóa giảng :

1) “Hồi sự hướng lý”.

Nguyện làm cho chúng sinh thường được an lạc, không có các bệnh khổ; khi họ muốn làm việc ác thì đều không thành, nguyện làm việc thiện thì mau thành tựu. Đóng chặt hết thảy con đường ác, mở rộng con đường chân chính nhân thiên và Niết-bàn. 2) “Hồi nhân hướng quả”.

Nếu có chúng sinh do tích tập những nghiệp ác, chiêu cảm những quả khổ rất nặng, tôi đều thay họ chịu khổ, khiến cho chúng sinh ấy đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu vô thượng bồ-đề.

3) “Hồi tự hướng tha”.

Công đức có được từ hạnh đầu tiên là “lễ bái” cho đến hạnh “tùy thuận chúng sinh” của Phổ Hiền Bồ Tát, đều đem tất cả hồi hướng cho hết thảy chúng sinh khắp cả pháp giới, hư không giới.

Từ hạnh nguyện thứ nhất là lễ kính chư Phật cho đến hạnh nguyện thứ chín là hằng thuận chúng sinh, trong chín hạnh nguyện đó tôi đã tu tập vô lượng pháp môn và rất nhiều công đức. Nhưng những công đức đó có phải tôi để dành cho riêng tôi dùng không? Không phải. Tất cả những công đức ấy tôi đều đem hồi hướng, cúng dường. Tôi cho ai? Tôi cho hết thảy chúng sinh khắp cả pháp giới và hư không giới. II. Hồi hướng phát nguyện tâm là gì ?

Hồi hướng phát nguyện tâm nghĩa là tâm phát nguyện đem công đức niệm Phật của chính mình hồi hướng cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới (tức không sót bất cứ chúng sanh nào - PG&XH) đều cùng được vãng sanh Tây Phương. Nếu có tâm ấy, công đức sẽ vô lượng. Bởi lẽ, hồi hướng cho hết thảy chúng sanh (loài người, muông thú, côn trùng,...- PG&XH)chính là phù hợp với thệ nguyện Bồ Đề của Phật, như một giọt nước gieo vào biển cả cũng trở thành sâu rộng như biển cả. Nếu chưa đến được biển, đừng nói chi là một giọt nước, dẫu trường giang, sông lớn hiển nhiên vẫn thua xa biển cả như trời với đất. Nếu chỉ vì một người mà niệm thì do tâm lượng nhỏ hẹp, công đức cũng nhỏ hẹp!

Ví như thắp một ngọn đèn thì chỉ có ánh sáng của một ngọn đèn. Nếu chịu xoay vần thắp cho những ngọn đèn khác thì ánh sáng của trăm ngàn vạn ức vô lượng vô số ngọn đèn sẽ chẳng thể nào thí dụ được; thế nhưng ánh sáng của ngọn đèn ban đầu cố nhiên chẳng bị hao tổn gì! Người đời chẳng biết nghĩa này, nên chỉ biết tự tư tự lợi, chẳng muốn cho người khác hưởng lợi ích ấy.

(Kinh Niệm Phật Ba La Mật giảng như sau :

« Thế Nào Gọi Là Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm ?

Nầy Diệu Nguyệt, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm nghĩa là dấy động cái tâm chí như thế nầy: Không riêng gì bản thân mà cầu xuất ly Ta Bà loạn trược, khổ não. Trái lại, phải nguyện vì hết thảy chúng sanh khắp ba cõi, sáu đường mà cầu vãng sanh Cực Lạc, chóng thành tựu Phật đạo để tế độ quần mê. Tại sao vậy? Vì muốn có cái quả đức siêu việt tối thượng thì phải phát khởi cái tâm chí quảng đại, dũng mãnh.

Người Niệm Phật nếu đem cái tâm thái hời hợt, hẹp hòi, yếu hèn, chỉ riêng vì giải thoát bản thân, thì chẳng bao lâu sẽ chiêu cảm cái quả báo nhỏ bé, nông cạn, tầm thường, không xứng hợp với bản hoài chư Phật, chẳng tương ứng cùng bản nguyện vĩ đại Bi Trí Viên Mãn của Phật A Di Đà. Cho nên khó được tiếp dẫn về nơi cõi nước Tây phương.

Lại nữa, người niệm Phật còn phải đem tất cả công đức thực hành sáu ba la mật, bốn nhiếp pháp, bốn vô lượng tâm hoặc ba mươi bảy phẩm trợ đạo... mà hồi hướng khắp anh em, cha mẹ, bằng hữu, chư thiên, chư tiên, bốn loại chúng sanh kẻ oán người thân đều được an trụ trong hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật.”

III. Người được hồi hướng nhận được bao nhiêu phần?

Kinh Địa Tạng dạy: “Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó.”

----------- Nhân đây, xin được kể một câu chuyện hay về hồi hướng:

Thầy Thích Giác Hoàng kể: "Nhân đây, Sư kể cho Phật tử một câu chuyện thật của một Sư Cô có liên quan đến sự mầu nhiệm của công đức hồi hướng. Có một Sư Cô đang học tại Ấn Ðộ, nhân một dịp đặc biệt đã kể cho chư Tăng nghe những câu chuyện huyền bí do công đức hồi hướng. Chuyện kể rằng, khi thân mẫu của Sư Cô bị bệnh ... (Sư không nhớ rõ bệnh gì), phải chuẩn bị ăn uống cho đầy đủ để tuần sau đi mổ. Trong một tuần đó, vị Sư Cô này (lúc bấy giờ còn là một cư sĩ) HẾT LÒNG tụng kinh để sám hối và cầu nguyện cho thân mẫu, nguyện nhờ thần lực của chư Phật, chư Bồ-tát, chư Thiên gia hộ cho thân mẫu cô được an vui, nhẹ nhàng khi lên giường mổ. Nhưng kỳ diệu thay, tới ngày đi mổ, bác sĩ tái khám để chuẩn bị đưa lên giường mổ, không thấy bệnh gì cả. Cả hội đồng bác sĩ, y tá phải hội chẩn một lần nữa, nhưng kết quả cho thấy vẫn không có bệnh hoạn, trong khi trước đó một tuần thì bác sĩ đã chụp X-ray và xác quyết rằng bệnh trạng không thể nào không mổ. Lý do gì căn bệnh kia biến mất? Ðó là một câu hỏi lớn cho cả hội đồng y khoa, nhưng dù có nói gì đi nữa, cũng không có câu trả lời thỏa đáng đối với họ."

IV. Bất cứ thiện căn nào cũng cần hồi hướng :

* Bất luận tụng kinh nào, trì chú nào, cũng đều phải niệm Phật bao nhiêu tiếng đó rồi hồi hướng vãng sanh Cực Lạc thì mới hợp với tông chỉ tu Tịnh nghiệp.

* Ngay trong sanh hoạt thường ngày, với tất cả những điều thiện nhỏ nhặt nhất và các thiện căn như tụng kinh, lễ bái… đều đem những công đức ấy hồi hướng vãng sanh Cực Lạc. Như thế thì hết thảy hạnh môn đều thành trợ hạnh cho Tịnh Độ, như gom các hạt vi trần thành đất, tụ các dòng nước thành biển, rộng lớn sâu thẳm, ai có thể cùng tột được! Nhưng phải phát Bồ Đề tâm, thệ nguyện độ sanh, hồi hướng tất cả công đức tu trì cho khắp pháp giới chúng sanh, bốn ân, ba cõi. Giống như đổ dầu vào lửa, như mạ gặp mưa; đã kết pháp duyên sâu xa cùng hết thảy chúng sanh lại còn có thể mau thành tựu hạnh Đại Thừa thù thắng cho chính mình. Nếu không biết nghĩa này thì là kiến giải tự lợi của phàm phu, Nhị Thừa; dẫu tu diệu hạnh này, chỉ cảm được quả hèn kém.

Nếu đem các công đức khác hồi hướng về phước báo thế gian thì niệm chẳng quy một mối, càng khó vãng sanh. Phải biết rằng nếu thật sự niệm Phật sẽ chẳng cầu phước báo thế gian, nhưng tự được hưởng phước báo thế gian. Nếu cầu phước báo thế gian, chẳng chịu hồi hướng vãng sanh thì phước báo thế gian đạt được đó sẽ trở thành tệ kém. V. Niệm Phật có thể bỏ hồi hướng không?

Niệm Phật chớ nên bỏ hồi hướng. Hồi hướng chính là TÍN, NGUYỆN được phát ra từ miệng.