Chữ Nhẫn Trong Đạo Phật

  -  

Nhẫn nghĩa là chịu đựng, nhẫn nhục, trong Phật giáo là từ bi, và trí tuệ và là bằng chứng của những cấp độ giải thoát, đi đến Niết bàn.

Bạn đang xem: Chữ nhẫn trong đạo phật




Nghĩa của các loại chữ "Nhẫn"

Chữ Nhẫn trong tiếng Hán được ghép từ 2 chữ tượng hình là chữ đao (刀) ở trên và chữ tâm (心) ở dưới, là nhẫn trong nhẫn nại, nhẫn nhịn (忍耐). Chiết tự chữ Hán này thể hiện con dao nằm ngay trên trái tim, tức là gặp chuyện gì không hay mà một người không giữ được tâm yên ổn, nhẫn nhịn thì lưỡi dao này sẽ rơi xuống, và đau đớn là không thể tránh khỏi.

Chữ Nhẫn trong tiếng Hán.

Ngoài ra chữ Nhẫn cũng được hiểu rằng tạo bởi 3 bộ là bộ đao (刀) và bộ phiệt (丿), cùng ghép thành chữ nhận (刃) mang ý nghĩa là vũ khí. Chữ nhận (刃) này lại kết hợp với chữ tâm (心) tạo thành chữ nhẫn, ý chỉ dù có bị tấn công hay tổn hại đau đớn đến tột cùng, nhưng chỉ cần dữ cho tâm nhẫn nhịn, nhẫn nại chờ đợi thì có thể thể chuyển nguy thành bại, điềm dữ thành lành...

Nhẫn được hiểu là chịu đựng, nhường nhịn, cũng mang nghĩa là nhẫn nhục. Nhẫn nhục mang nghĩa là kiên nhẫn, nhẫn nại, là kiên trì chịu đựng, nỗ lực chứ không phải là chịu khuất phục, chịu hổ thẹn, nhún nhường.

Ý nghĩa chữ Nhẫn trong đạo Phật

Trong đạo Phật, ý nghĩa của chữ Nhẫn được nâng cao tới mức tối đa. Nhẫn nhục (Sanskrit: Ksanti, Pali: Khanti, tiếng Hán: Nhẫn, An Nhẫn), ám chỉ cái tâm an tịnh trước tất thảy mọi sự sỉ nhục, gây hại, được đề cập rất nhiều trong các kinh điển Phật giáo.

Trong đạo Phật, ý nghĩa của chữ Nhẫn được nâng cao tới mức tối đa.

Trong Kinh Duy Ma Cật, có 3 loại "nhẫn" về thân, khẩu, ý được nhắc đến, đó là thân: bị hành hạ, bệnh tật,...; khẩu: không nói lời cay độc khi bị làm nhục, hành hạ; ý: không giữ sự căm hận, oán thù trong tâm. Luận Du-già Sư Địa cũng nêu ra 3 tính chất của "Nhẫn": Không tức giận, Không oán thù và Không giữ ý xấu trong lòng.

Kinh Giải Thâm Mật thì phân biệt 3 ý nghĩa của chữ "Nhẫn", gồm Oán hại nhẫn: tức không oán hận những người làm hại mình; An thọ khổ nhẫn: chịu đựng tất thảy sự đau khổ, khó khăn, hành hạ và Đế sát pháp nhẫn: Nhìn rõ các bản chất của sự vậy.

Luận Đại Trí Độ cũng phân biệt hai loại nhẫn, một là Chúng sinh nhẫn: chấp nhận, không giận dỗi và thương yêu tất thảy mọi người, bao gồm cả những ai làm hại mình và hai là tâm không động, chấp nhận rằng tất cả pháp đều không sinh, không diệt.

Trong Kinh Bồ tát Địa Trí, Nhẫn cũng được chia thành hai loại: An thọ khổ nhẫn là chịu đựng những sự khổ về thân như ốm đau, bệnh tật, hành hạ,... và Quán sát pháp nhẫn ;à quan sát tính không của mọi vật, bởi vậy mà tâm an nhiên tự tại.

Kinh Pháp Tập đã nêu ra 6 năng lực của người tu nhẫn, đồng thời chỉ ra ý nghĩa của nhẫn, đó là: An tĩnh trước những lời mắng chửi, không giận hờn, thù hằn; An tĩnh khi bị đánh đập, hành hạ; An tĩnh trước mọi sự áp bức, mưu hại mà không có ý định trả thù; An tĩnh trước sự tức giận của người khác;An nhiên trước sự được mất, khen chê, đề cao hay hạ thấp, khổ vui và Giữ tâm an yên, không nhiễm sự phiền não.


Nhẫn bà-la-mật là trí tuệ tuyệt đối, là tính không, là tính vô sinh.

Nhẫn nhục là sức mạnh của Sa-môn, được nêu như một trong 8 loại sức mạnh tại Kinh Tăng Nhất A-hàm. Nhẫn bà-la-mật là trí tuệ tuyệt đối, là tính không, là tính vô sinh. Nhẫn được coi là pháp tu, là phẩm hạnh của vị Bồ Tát đạt ba la mật, bố thí trì giới, tu tâm để không còn thấy Ta hay thấy Người, chỉ còn lại là tâm đại bị, đại thệ nguyện cứu độ chúng sinh. Một người không biết nhẫn nhục, chịu đựng yếu thế, thiệt thòi thì trong tâm sẽ luôn có một ngọn lửa âm ỉ cháy, chỉ đợi có sóng gió ập tới là có thể bùng cháy bất cứ lúc nào. Ngọn lửa trong tâm một khi đã rực cháy thì sẽ thiêu đốt hết tất thảy, làm bùng tâm cơ hơn thua, thiệt lợi.

Xem thêm: Kể Truyện Cổ Tích: Bạch Tuyết Và Hoa Hồng Hoa, Nghe Kể Chuyện Cổ Tích

Thật khó có thể nói hết những gương nhẫn nhục trong kinh điển nhà Phật, chẳng hạn như Kinh Bổn Sinh (Jakata) đã nhiều lần kể chuyện về sự nhẫn nhục của tiền thân Đức Phật. Ngài từng là Thái tử, nhưng cũng từng chịu bị móc mắt, xẻo thịt, ấy vậy mà vẫn không hề oán thoán, giữ tâm nhẫn nhục để có thể cảm hóa kẻ ác. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói rằng: "Ta hiểu rõ cái tinh túy của ‘không tranh giành’, có thể nói là thiên hạ đệ nhất".

Xưa có câu chuyện cổ trong đạo Phật, rằng có người ca ngợi Đức Phật là bậc đại phúc đại đức. Có người nghe thấy liền ganh tị, tức giận nói rằng: "Sinh ra bảy ngày thì mất mẹ, sao có thể nói là đại phúc đại đức chứ?". Vị kia đáp lại rằng: "Cả tuổi tác và tư tưởng đều đến thời kỳ cực đỉnh mà vẫn không chết, bị đánh cũng không tức giận, bị mắng chửi cũng không mắng chửi lại. Như vậy chẳng phải là đại phúc đại đức sao?".

Kinh Pháp Hoa kể lại rằng, Bồ Tát Thường Bất Khinh mặc cho người ta chê cười, xua đuổi, vẫn cứ gặp ai đều hành lễ, cúi lạy, tán thán, sau cùng đạt được trí tuệ vô ngoại, giáo hóa người khác.

Kinh Tạp A-hàm, Trung bộ, Trưởng lão tăng kệ đều nhắc tới Tôn giả Punna (Phú Na) từng xin Đức Phật cho Ngài tới giảng Pháp ở xứ Sronaparanta (Du-lãn-na). Dù cho dân chúng nơi đây còn sơ khai, cộc cằn, chửi mắng, đánh đập, thậm chí tấn công Tôn giả, Ngài vẫn sẵn sàng cam chịu, sau cùng giáo hóa được dân chúng tại xứ này.

Làm sao để tu chữ "Nhẫn"

Trong nhà Phật có câu: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán". Điều này có nghĩa rằng trong đời sống, ta phải học lấy chữ Nhẫn, bởi đấy là phương pháp tu tập để tạo nên nghiệp lành, vãn sanh cực lạc và không oán trách trời cao.

Phật có dạy, ở đâu có phật pháp thì nơi đó dù đói rét, vất vả vẫn có thầy tu học, còn nơi nào dư thừa của cải mà không có đạo đức thì cũng bỏ đi. Người nào biết nhẫn nhục, chịu đựng những gian khổ, phiền não mà không than phiền, thản nhiên tự tại trước sóng gió thì có thể chiến thắng được nghịch cảnh.

Người nào biết nhẫn nhục, chịu đựng những gian khổ, phiền não mà không than phiền, thản nhiên tự tại trước sóng gió thì có thể chiến thắng được nghịch cảnh.

Để có thể tu chữ Nhẫn, một người có thể Niệm Phật thường xuyên, giúp bản thân có được sự tập trung, không còn tham-sân-si để ý những chuyện khác. Nên giữ tâm thế biết quán trưởng mọi việc, phàm là việc gì trên đời cũng luôn tồn tại hai mặt Tốt - Xấu, việc nào kém hơn, thiệt hơn thì mình quán, phần tốt thì giữ lại để hòa hữu với đối phương.

Kinh Phật cũng dạy rằng, con người nên giữ cho tâm không còn cố chấp, nếu gặp khó khắn thì hãy coi đó là nghiệp lực mà mình phải nhận lấy, phải trả, dần dần chuyển đổi điều đó sang làm những việc thiện, việc tốt. Một người cũng nên nuôi dưỡng lòng từ bi, hỷ xả, nghĩ mọi việc theo hướng tích cực, nhường phần có lợi cho người khác. Với những kẻ nói lời cộc cằn, làm điều không hay thì hãy dùng tình thương, từ bi ôn hòa mà đối đãi với họ, lâu dần có thể cảm hóa lòng người.

Nhẫn là đức tính tốt đẹp của người Á Đông, từ lâu đã được coi là quy tắc ứng xử không thể thiếu trong cuộc sống đời thường. Tại Việt Nam, với nền văn hóa thấm đậm tình người, lấy tình thương cảm làm cốt lõi, chữ Nhẫn luôn được đề cao và coi trọng. Cũng vì vậy mà người Việt luôn chủ trương nhường nhịn, giữ tâm thế an yên, sẵn sàng nhận phần kém để giữ được hòa khí hài hòa cho đôi bên. Vì mong muốn có cuộc sống thanh bình, an lành mà từ nhỏ đã được dạy dỗ biết cách nhẫn nhịn, không để bụng thù hằn ai. Dẫu cho trong kiếp người nhất định sẽ gặp phải những khó khăn, trắc trở, nhưng vào những lúc tưởng chừng không thể chịu đựng được mà vẫn giữ cho đầu óc bình tĩnh, nhẫn nhịn, chỉ cần kiên trì, nỗ lực, nhất định sẽ đạt được thắng lợi.

Xem thêm: Duy Ngã Độc Tôn Là Gì - Ý Nghĩa Câu Nói: 'Duy Ngã Độc Tôn'

Nhẫn nhục nên được hiểu là điều tích cực, hiền thiện, không nên hiểu sai là sự hèn nhát, nhún nhường. Chữ Nhẫn có nhiều tầng lớp nghĩa, mang nội hàm phong phú, vừa là phép đối nhân xử thế, vừa là cách để rèn luyện tinh thần, nội tâm mạnh mẽ, kiên định, an yên trước mọi nghịch cảnh, có thể nhẫn được những điều mà người khác không thể. Nhẫn nhục trong đạo Phật nên hiểu là trí tuệ, là từ bi và là bằng chứng của những cấp độ giải thoát khỏi cõi sinh tử luân hồi, đưa đến cứu cánh Niết bàn.