Câu đối chữ hán trong chùa

  -  
*

大 雄 寶 殿

ĐẠI HÙNG BẢO ĐIỆN

(Chánh điện)

1

兩手把山河大地揑他搓圓灑向空

中,毫 無色 相 ;

一口 將 先 天 祖氣 吐 來 嚼 去 呑 在 肚 里, 放 大 光 明

(Chân Như thiền tự)

Âm:

Lưỡng thủ bả sơn hà đại địa, niết tha viên sái hướng không trung, hào vô sắc tướng

Nhất khẩu tương tiên thiên tổ khí, thổ lai tước khứ thôn tại đỗ lý, phóng đại quang minh.

Bạn đang xem: Câu đối chữ hán trong chùa

Nghĩa:

Hai tay nắm lấy núi sông đất đai, bóp cho nát vụn, rải vào không trung, không còn mảy may sắc tướng.

Một miệng ngậm lấy Tổ khí tiên thiên, nhai tới nhai lui, nuốt vào trong bụng, phóng ra ánh sáng vô cùng.

2

靈 在 識 心 化 度 群 生 多 善 敢

福 基 命 位 栽 培 法 力 樂 天 人

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

Âm:

Linh tại thức tâm hóa độ quần sanh đa thiện cảm

Phước cơ mạng vị tài bồi pháp lực lạc thiên nhân.

Nghĩa:

Linh tại thức tâm hóa độ quần sanh khiến họ nhiều thiện cảm

Phước theo vận mạng bồi đắp pháp lực làm lợi lạc trời người.

3

參 話 頭 隨 度 化 緣 深 培 佛 種

看 公 案 應 機 接 物 大 振 宗 風

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

AÂm:

Tham thoại đầu tùy độ hóa duyên thâm bồi Phật chủng

Khán công án ứng cơ tiếp vật đại chấn tông phong

Nghĩa:

Tham thoại đầu tùy độ hóa duyên khiến sâu dầy giống Phật.

Khán công án ứng cơ tiếp vật làm hưng thịnh Thiền tông

4

寶 殿 巍 峨 凜 凛 金 身 嚴 色 相

峯 山 嚴 肅 溟 溟 滄 海 泛 慈 航

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

Âm :

Bửu điện nguy nga lẫm lẫm kim thân nghiêm sắc tướng

Phong sơn nghiêm túc minh minh thương hải phiếm từ hàng

Nghĩa:

Điện báu nguy nga, thân Phật uy nghi trang nghiêm tướng đẹp.

Núi cao vòi vọi, biển cả mênh mông thả chiếc thuyền từ.

5

說 妙 相 莊 嚴 億 萬 金 身 同 是 佛

布 慈 雲 潦 澆 三 天 世 界 盡 生 蓮

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

Âm:

Thuyết diệu tướng trang nghiêm ức vạn kim thân đồng thị Phật,

Bố từ vân lạo kiêu tam thiên thế giới tận sanh liên.

Nghĩa:

Nói tướng đẹp trang nghiêm ức vạn thân vàng cùng là Phật

Giăng mây từ mưa rưới ba ngàn thế giới thảy mọc sen.

6

心 凈 何 須 南 海 龍 朝 虎 伏 護 峰 山

眼 前 即 是 西 方 祇 樹 金 蓮 成 寶 境

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

Âm:

Tâm tịnh hà tu Nam Hải long triều hổ phục hộ phong sơn

Nhãn tiền tức thị Tây Phương kỳ thọ kim liên thành bửu cảnh.

Nghĩa:

Tâm tịnh đâu cần Nam Hải, rồng chầu hổ mọp bảo vệ non cao.

Trước mắt tức là Tây Phương, cây cả sen vàng trở thành cảnh báu.

7

金 殿 維 持 , 金 池 暖, 金 溪 開 落 金 蓮 座

法 輪 常 轉 , 法 雲 高 , 法 雨 飛 化 法 相 光

(Linh Phước cổ tự – ĐàLạt)

Âm:

Kim điện duy trì, kim trì noãn, kim khê khai lạc kim liên tòa.

Pháp luân thường chuyển, pháp vân cao, pháp vũ phi hóa pháp tướng quang.

Nghĩa:

Giữ gìn đền điện vàng, ao vàng ấm, suối vàng khơi chảy rót xuống tòa sen vàng.

Thường xoay bánh xe pháp, mây pháp cao, mưa pháp bay biến thành hào quang pháp tướng.

8

海 會 啓 蓮 池 普 被 三 根 登 寶 地

如 來 開 聖 教 提 攜 萬 類 脫 輪 廻

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Hải hội khải liên trì phổ bị tam căn đăng bửu địa

Như Lai khai thánh giáo đề huề vạn loại thoát luân hồi.

Nghĩa:

Hội lớn mở Liên trì trùm khắp ba căn lên đất Phật,

Như Lai khai thánh giáo dắt dìu muôn loại thoát luân hồi.

9

祝 福 人 民 安 樂 , 佛 道 共 人 道 並 行

祈 禱 世 界 和 平 , 法 輪 與 世 輪 同 轉

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Chúc phúc nhân dân an lạc, Phật đạo cọng nhân đạo tịnh hành.

Kỳ đảo thế giới hòa bình, pháp luân dữ thế luân đồng chuyển.

Nghĩa:

Chúc mừng nhân dân an lạc, Phật đạo cùng lúc vận hành với nhân đạo.

Cầu nguyện thế giới hòa bình, Pháp luân đồng thời vận chuyển với thế luân.

10

清 凈 光 明 遍 照 尊

廣 大 寂 凈 三 摩 地

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Thanh tịnh quang minh biến chiếu tôn

Quảng đại tịch tịnh tam ma địa.

Nghĩa:

Đấng Biến chiếu sáng suốt thanh tịnh

Pháp Chánh định vắng lặng rộng lớn.

11

菩 薩 由 悟 圓 通 終 成 滿 覺

如 來 大 開 方 便 廣 度 群 迷

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Bồ tát do ngộ viên thông chung thành mãn giác

Như Lai đại khai phương tiện quảng độ quần mê

Nghĩa:

Bồ tát nhờ ngộ viên thông nên cuối cùng thành bậc chánh giác

Như Lai mở nhiều phương tiện để rộng độ những hạng lầm mê.

12

山 神 送 迎 福 氣 無 量

聖 地 朝 禮 天 人 歡 喜

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm :

Sơn thần tống nghênh phước khí vô lượng

Thánh địa triều lễ thiên nhân hoan hỷ.

Nghĩa:

Đưa đón Sơn thần thì phước khí vô lượng

Hành hương thánh địa thì Trời người vui mừng.

13

彌 陀 經 中, 洪 名 經 中 , 經 經 願 陰 超 陽 盛

楞 嚴 會上 , 大 悲 會 上 , 會 會 祈 國 泰 民 安

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Di-đà kinh trung, Hồng Danh kinh trung, kinh kinh nguyện âm siêu dương thạnh.

Lăng-nghiêm hội thượng, Đại Bi hội thượng, hội hội kỳ quốc thái dân an.

Nghĩa:

Trong kinh Di-đà, trong kinh Hồng Danh, mỗi kinh cùng nguyện cho người mất siêu thăng kẻ còn thịnh vượng.

Trên hội Lăng-nghiêm, trên hội Đại Bi, mỗi hội đều cầu cho đất nước thanh bình nhân dân yên vui

14

瑤 座 普 照 千 家 慶

光 殿 宏 開 萬 戶 春

(Thiên Vương Cổ sát –ĐàLạt)

Âm:

Diêu tòa phổ chiếu thiên gia khánh

Quang điện hoằng khai vạn hộ xuân.

Nghĩa:

Tòa ngọc chiếu khắp ngàn nhà mừng

Điện vàng mở rộng muôn hộ vui

15

春 木 千 枝 歸 一 本

長 江 萬 派 總 同 源

(Chùa Thiên Khánh – Long An)

Âm:

Xuân mộc thiên chi quy nhất bổn

Trường giang vạn phái tổng đồng nguyên

Nghĩa:

Cây tươi ngàn cành về một gốc

Sông dài muôn nhánh chung một nguồn.

16

興 正 教 廣 慈 悲 祝 南 國 皇 圖 鞏 固

福 果 増 盛 道 德 祈 西 乾 佛 日光 晖

(Chùa Hưng Phước – Long An)

Âm:

Hưng chánh giáo quảng từ bi chúc Nam quốc hoàng đồ củng cố.

Phước quả tăng thạnh đạo đức kỳ Tây Càn Phật nhật quang huy.

Nghĩa:

Hưng khởi Chánh giáo, mở rộng từ bi, chúc cơ đồ nước Nam vững chắc.

Phước quả thêm nhiều, phát triển đạo đức, nguyện mặt trời trí huệ Tây Thiên sáng rực.

Xem thêm: Lời Dạy Đức Phật - Lời Phật Dạy Hay Về Đời Sống Và Tình Yêu

17

佛 性 圓 融 , 湛 若 虚 空, 莫 能 測 其 邊 際

法 身 無 相 , 杲 如 篙 日, 孰 敢 儗 其 高 明

(Chúa Nguyễn Phúc Chu tặng chùa Thập Tháp – Bình Định)

AÂm:

Phật tính viên dung, trạm nhược hư không, mạc năng trắc kỳ biên tế.

Pháp thân vô tướng, cảo như hao nhật, thục cảm nghĩ kỳ cao minh.

Nghĩa:

Phật tính tròn đầy, trong trẻo tựa hư không, không sao lường nổi bờ mé.

Pháp thân vô tướng, sáng rực như mặt trời, đâu dám định chỗ tuyệt vời.

18

海 岸 起 良 因 , 法 雨 普天 兹 佛 土

靈 峰 凝 瑞 氣 , 祥 雲 徧 地 蔭人 間

(Chúa Nguyễn Phúc Chu tặng chùa Linh Phong – Bình Định –Vũ Ngọc Liễn dịch)

Âm:

Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ

Linh Phong ngưng thụy khí, tường vân biến địa ấm nhân gian.

Nghĩa:

Bờ biển gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật

Núi linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che mát cõi người.

19

石 室 千 年 黄 虎 臥

花 池 十月 白 蓮 開

(Tri huyện Đào Tấn tặng chùa Linh Phong)

AÂm:

Thạch thất thiên niên hoàng hổ ngọa

Hoa trì thập nguyệt bạch liên khai

Nghĩa:

Thất đá cọp vàng nghìn thuở nghỉ

Ao hoa sen trắng tháng mười đơm

20

十 年 湖 海 歸 來 夢

一 境 湮 花 自 在 天

(Tri huyện Đào Tấn tặng chùa Linh Phong,cả hai câu đều do Vũ Ngọc Liễn dịch)

Âm:

Thập niên hồ hải quy lai mộng

Nhất cảnh yên hoa tự tại thiên

Nghĩa:

Khói hoa một mớ trời dành sẵn

Ao biển mười năm mộng trở về.

21

寶 鐸 長 鳴 不 斷 門 前 流 綠 水

法 身 独 露 依 然 坐 裏 看 青 山

(Chùa Thiền Tôn)

Âm:

Bảo đạc trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy

Pháp thân độc lộ y nhiên tọa lý khán thanh sơn

Nghĩa:

Tiếng mõ vang dài, trước cửa không ngừng dòng suối biếc

Pháp thân riêng bày, cứ ngồi như thế ngắm non xanh

22

若 實若 虚 , 竹 影 掃 堦 塵 不 動 ,

是空 是 色 , 月 穿 海 底 水 無 痕

(Khuyết danh làm tặng chùa Hội Khánh–Sông Bé–Giản Chi dịch)

AÂm:

Nhược thật nhược hư, trúc ảnh tảo giai trần bất động,

Thị không thị sắc, nguyệt xuyên hải để thủy vô ngân.

Nghĩa:

Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần vẫn tạnh

Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, sóng biển không nhồi.

23

寶 山 遍 種 菩 提 壽 ;

覺 苑 常 開 智 慧 花

(Bảo Giác thiền tự)

Âm:

Bảo sơn biến chủng Bồ đề thọ;

Giác uyển thường khai trí huệ hoa

Nghĩa:

Bảo sơn cây Bồ-đề trồng khắp;

Giác uyển hoa trí huệ trỗ đầy.

24

法 雨 洒 空 庭 ,恍 惚 螽 聲 皆 說 偈 ;

宗 風 繞 靜 室 , 分 明 燈 影 自 昭 花

(Chùa Thê Hà)

Âm:

Pháp vũ sái không đình, hoảng hốt chung thinh giai thuyết kệ;

Tông phong nhiễu tĩnh thất, phân minh đăng ảnh tự chiêu hoa.

Nghĩa:

Mưa pháp rưới sân trống, mang máng giạt sành đềunói kệ

Gió thiền quanh thất vắng, rõ ràng bóng nến tự in hoa.

25

乾 坤 粒子撒手儘成空 ,

唯大慈大悲 此 性不生還不 滅 ;

衣鉢眞傳拈花只微笑, 捨了相了法上天 無 處亦 無 聲.

(Chùa Quán Sứ – Chùa Vĩnh Nghiêm Hà Nội do cụ Dương Bá Trạc làm)

Âm:

Càn khôn lạp tử tản thủ tẫn thành không, duy đại từ đại bi thử tánh bất sanh hoàn bất diệt;

Y bát chân truyền niêm hoa chỉ vi tiếu, xả liễu tướng liễu pháp thượng thiên vô xứ diệc vô thanh.

Nghĩa:

Một hạt càn khôn ném ra trọn thành không, chỉ còn đại từ đại bi, tánh này chẳng sanh lại chẳng diệt,

Chân truyền y bát giơ hoa chỉ mỉm cười, bỏ liễu tướng liễu pháp, thiên đường không tiếng cũng không nơi.

26

頑 石 點 頭 , 石 可 爲 人, 人作 佛;

雁 山 回 首 , 山 開 正 法, 法 傳 人.

(Chùa Nhạn Sơn – Bình Định, Thái Hòa dịch)

Âm:

Ngoan thạch điểm đầu, thạch khả vi nhân, nhân tác Phật;

Nhạn sơn hồi thủ, sơn khai chánh pháp, pháp truyền nhân.

Nghĩa:

Đá rắn gật đầu, đá hẳn là người, người làm Phật;

Non nhạn hướng lễ, non mở chánh pháp, pháp truyền người.

27

八寶燦金梁 , 顯日臨關 , 便 有 人 有 境;

五雲生玉棟 , 春 光 展 座 , 喜 不 即 不 離

(Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt cho chùa Quốc Ân – Huế,nơi thiền sư Nguyên Thiều trụ trì)

Âm:

Bát bảo xán kim lương, hiển nhật lâm quan, tiện hữu nhân hữu cảnh;

Ngũ vân sanh ngọc đống, xuân quang triển tọa, hỷ bất tức bất ly.

Nghĩa:

Tám báu rực rường vàng, vầng nhật chiếu thiền môn khéo được có người có cảnh;

Năm mây ngời cột ngọc, ánh xuân soi bảo tọa mừng thay không thân không sơ.

28

釋氏持律,儒者理中,總要修身誠意,

自然徑値乎內,義方乎外;

君子敕機,禪人習定,同歸見性明心,

端由戒慎不覩,恐懼不聞

(Câu đối dán trước Đại giới đàn chùa Thiền Lâm –Bản dịch của Viện Đại học Huế)

Âm:

Thích thị trì luật, Nho giả lý trung, tổng yếu tu thân thành ý, tự nhiên kính trực hồ nội, nghĩa phương hồ ngoại;

Quân tử sắc cơ, thiền nhân tập định, đồng quy kiến tánh minh tâm, đoan do giới thận bất đổ, khủng cụ bất văn.

Nghĩa:

Cửa Phật giới luật nhà Nho trung dung, chỉ cốt thành ý chính tâm, tự nhiên ngoài có nghĩa phương, trong có chánh trực;

Quân tử cơ vi, Thiền sư nhập định, đều để minh tâm kiến tánh, bởi vì răn chỗ chẳng thấy, sợ chỗ chẳng nghe.

29

禪 演 一 乘 開 示 僧 尼 從 鳥 道

宗 開 極 果 伏 為 大 衆 透 牢 關

(Thiền viện Tuệ Thông)

Âm:

Thiền diễn nhất thừa khai thị Tăng ni tùng điểu đạo,

Tông khai cực quả phục vị đại chúng thấu lao quan.

Nghĩa:

Thiền diễn bày nhất thừa, khai thị Tăng ni theo lối tắt,

Tông khai mở cực quả mong cầu đại chúng thấu lao quan.

30

福果多結晶,輻奏人車轟五乘

厚村潮溯水,光煇星月印天江

(Chùa Phước Hậu)

Âm:

Phước quả đa kết tinh, bức tấu nhân xa oanh ngũ thặng

Hậu thôn triều tố thủy, quang huy tinh nguyệt ấn thiên giang.

Nghĩa:

Quả Phước kết tinh nhiều, rầm rộ người xe chấn động năm thừa.

Xóm Hậu dòng nước xuôi ngược, ngời sáng trăng sao in giữa dòng sông.

31

福地擁石衢,普遍叢林森道樹

厚基聳盛立,高朋古寺顯家鄉

(Chùa Phước Hậu)

Âm:

Phước địa ủng thạch cù, phổ biến tòng lâm sâm đạo thọ.

Hậu cơ tủng thịnh lập, cao bằng cổ tự hiển gia hương.

Nghĩa:

Đất Phước đắp đường đá, khắp giáp tòng lâm dầy đặc cây đạo đức.

Nền Hậu thành vực cao, bạn đạo chùa xưa nổi bậc xóm quê nhà.

32

福地潤後江,諸水無不潮東,匯納百川歸大海

厚基煇佛日,眾星悉皆栱北,包含萬像應中天

(Chùa Phước Hậu)

Âm:

Phước địa nhuận hậu giang; Chư thủy vô bất triều đông, hối nạp bá xuyên qui đại hải.

Hậu cơ huy Phật nhật: Chúng tinh tất giai củng Bắc, bao hàm vạn tượng ứng trung thiên.

Nghĩa:

Đất Phước nhuần thấm Hậu giang, các dòng nước đều chảy về biển Đông, rót nhận trăm sông qui về biển cả.

Nền Hậu sáng ngời ánh Phật, các ngôi sao đều chầu về Bắc Đẩu, bao trùm muôn tượng giữa trời trong

33

讀兵書懼戰。讀律書懼刑。讀佛書戰刑無懼。

耕禹田優水。耕湯田優旱。耕心田水旱何優。

(Chùa Phước Hậu)

Âm:

Đọc Binh thơ cụ chiến, đọc Luật thơ cụ hình, đọc Phật thơ chiến hình vô cụ.

Canh Võ điền ưu thủy, canh Thang điền ưu hạn. Canh tâm điền thủy hạn hà ưu.

Xem thêm: Thanh Minh Trong Tiết Tháng 3 Lễ Là Tảo Mộ Hội Là Đạp Thanh, Thanh Minh Trong Tiết Tháng 3 Là Gì

Nghĩa:

Đọc sách Binh sợ chiến tranh; Đọc sách Luật sợ hình phạt. Đọc sách Phật chẳng sợ chiến tranh và hình phạt.

Cày ruộng Vua Võ sợ nước lụt; Cày ruộng Vua Thang sợ nắng hạn. Cày ruộng tâm nào sợ nước lụt và nắng hạn