Bát Nhã Ba La Mật Là Gì

  -  
*

TÌM HIỂU Ý NGHĨA MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

* Huệ Ý ghi chép

Bản phiên âm Hán Việt Quán Tự Tại Bồ Tát hành rạm Bát Nhã Ba La Mật Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử : Sắc bất dị không, Không bất dị sắc, Sắc tức thị ko, Không tức thị sắc, Thọ, tưởng, hành, thức Diệc phục như thị. Xá Lợi Tử :

Thị chư pháp không tướng, Bất sanh bất diệt, Bất cấu bất tịnh, Bất tăng bất giảm, Thị cố ko trung vô sắc, Vô thọ, tưởng, hành, thức, Vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, Vô sắc, thinc, hương, vị, xúc, pháp, Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, Vô vô minc, diệc vô vô minc tận, Nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề Tát đõa y Bát Nhã Ba La Mật Đa, Cố trọng điểm vô tai quái ngại Vô quái ác ngại cố, vô hữu khủng bố Viễn ly điên đảo mộng tưởng Cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa, cố đắc A Nậu Đa La. Tam diệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, Thị Đại Thần Crúc, Thị Đại Minc Chụ, Thị Vô Thượng Chú, Thị Vô Đẳng Đẳng Crúc Năng trừ nhứt thiết khổ Chân thật bất hư Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chụ. Tức thuyết chú viết: "Yết đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế.Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha" ***** Ơn Trên tất cả dạy: " Khổ nguy vốn đường đi của tục, Gánh có tác dụng đưa ra, lắm thời gian hiểm nghèo"

1. KHỔ LÀ MỘT QUI LUẬT MUÔN ĐỜI CỦA KIẾPhường NGƯỜI. Muốn thoát khổ: a. Nhờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát chúng ta được cứu khổ. Trong Kinh Cứu Khổ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dạy: "Thử Kinch Đại Thánh năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai chén bát nạn khổ. Nhược hữu nhơn tụng đắc nhứt thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhứt vạn biến hiệp gia ly khổ nạn…" Dịch: "Kinc Cứu Khổ của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đủ sức giải được tù đọng tội, giải được bịnh nặng, giải được bố tai, tám nạn khổ. Người như thế nào tụng được 1000 lần, bản thân ra khỏi tai nạn, tụng được 10.000 lần thì cả gia đình ra khỏi tai nạn."

b. Chúng ta tự cứu khổ bằng theo gương Đức Quán Thế Âm Bồ Tát tụng với hành "TÂM KINH"

2. Tâm Kinh là một bài bác kinh phổ biến, quan trọng, tụng đọc trong số thời khóa, nhất là ở những thiền đường. Trong đạo Cao Đài, Tâm Kinc được tụng đọc vào một số nghi lễ, Hội Thánh Truyền Giáo ghi trong Kinc Tận Độ.

3. Theo truyền thuyết Tây Du Ký, Ngài Tam Tạng được Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trao Tâm Kinch để trì hành mà bảo thân vào chuyến hành hương. Thực tế Đường Tam Tạng, Huyền Trang Ngài dịch Tâm Kinh từ Phạn Văn ra Hán Văn năm 649, vỏn vẹn 262 chữ.

4. Mở đầu Tâm Kinh : "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm nám Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai ko độ nhứt thiết khổ ách". Dịch : "Đức Bồ Tát Quán Tự Tại Lúc dụng công rốt ráo trí huệ giải thoát thời thực chứng ngũ uẩn đều là Không và xa lìa mọi khổ nạn". Bồ Tát gồm Bồ Đề Tát Đõa Bồ đề: giác ngộ. Tát đoã : giúp người không giống giác ngộ, Bồ Tát: Đấng đã giác ngộ nhưng ko nhập Niết Bàn nhưng mà tiếp tục hành hóa để cứu độ bọn chúng sanh. Quán Thế Âm Bồ Tát : với ý nghĩa độ tha, Đức Bồ tát lắng nghe tiếng than phiền của chúng sanh để cứu khổ. – Quán tự tại Bồ Tát : trước Khi cứu độ tha nhân,mỗi người phải tự cứu lấy mình; Quán Tự Tại là dụ danh đến mỗi người lúc phản tỉnh nội cầu, cửa hàng chiếu hiện tại, hiện tiền, hiện thực thân vai trung phong của bản thân.

5. Hành thâm: thực hành chuyên vai trung phong đúng, đủ, liên tục mang đến đến dịp kết quả. Bát Nhã Ba La Mật Đa gồm nghĩa: – Bát Nhã: trí huệ. chứng, lý luận với sống thực. – Ngũ uẩn : sắc, thọ, – Ba La Mật Đa: độ người đến bờ bến tê, có người dịch là Diệu Pháp Trí Độ. – Chiếu kiến: thấy soi, thực tưởng, hành, thức – Sắc : thân mỗi người – Thọ : nhận vui, buồn vì xác thân tiếp nhận – Tưởng:Tâm tưởng của trí óc – Hành: hành động của cả tía thân, khẩu, ý – Thức: phân biệt loại phân biệt Trước Lúc dạy Tâm Kinc, Đức Phật dạy cửa hàng :"TỨ NIỆM XỨ" 1. Thân là bất tịnh 2. Tâm là vô thường 3.


Bạn đang xem: Bát nhã ba la mật là gì


Xem thêm: “ Ơn Đức Sinh Thành (Dương Thiệu Tước), Ơn Đức Sinh Thành


Xem thêm: Từ Điển Hán Việt Đại Từ Điển, Đại Từ Điển Chữ Nôm (Ấn Bản Mới Nhất)


Thọ là thị khổ 4. Pháp là vô vấp ngã lúc đến Tâm Kinh" tất cả đều là KHÔNG"; "SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC đều là KHÔNG". Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chúng không có tự ngã, nghĩa là ko phải là chủ thể độc lập. Do duim khởi, hợp thành, có cái này mới tất cả chiếc tê. Đức Bát Nhã Thiền Sư dạy : " Nhơn dulặng huyển hợp giả thành, Vô thường biến ảo tung tành từng giây ". ***** " Có điều này, dòng tê mới gồm, Do cái này, dòng nọ mới sanh. Trong vòng lẩn quẩn, loanh quanh, Bao giờ bay khỏi tử sanh luân hồi"

6. Câu 2: " Xá Lợi Tư! Sắc bất dị không, Không bất dị sắc Sắc tức thị không Không tức thị sắc Thọ, tưởng, hành, thức Diệc phục như thị" Dịch: "Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng không giống ko, Không chẳng không giống sắc, Sắc chính là ko Không đó là sắc, Thọ, tưởng, hành, thức Cũng đều như thế" Theo ngôn từ triết học thì ở câu 1, phủ định ngũ uẩn, cùng ở câu 2 là phủ định loại phủ định ở câu 1. Phủ định loại phủ định ban đầu không phải là tái khẳng định Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cơ mà chính là dung thông những mặt của một thực thể. Xin nghe lời dạy của Đức Bảo Pháp Chơn Quân về lẻ SẮC, KHÔNG. " Cho hay là không,sắc, sắc rồi không. Ở, ở, đi, đi khéo bận lòng, Vạn cổ nài nỉ ai lưu nhục thê;í Chỉ e lưu lạc lụy trần hồng. ***** KHÔNG là ở dạng TIỀM THỂ SẮC là ở dạng HIỆN THỂ Tiềm thể, hiện thể đều là các dạng của một BẢN THỂ, một THỰC THỂ duy nhất Ơn Trên dạy: "Ta có trong lúc gồm Đất Trời, Huyền đồng BẢN THỂ xẻ phân tách đôi; Không ta thì cũng ko Trời, Đất, Trời, Đất ta người chỉ một thôi." Thực thể thế làm sao ? 7. Câu 3: "Xá Lợi Tử! Thị chư pháp ko tướng, Bất sanh, bất diệt Bất cấu, bất tịnh Bất tăng, bất giảm Dịch: "Này Xá Lợi Tử! Tướng ko của các Pháp, Không sinh, không diệt Không nhơ, ko sạch Không tăng, không giảm" Ở đây thực thể của các Pháp, vượt ra phía bên ngoài đối nghịch thân thù, sanh tử, tăng giảm, nhơ, sạch. Đó là chỗ bản lai vô nhứt vật của Đức Lục Tổ Huệ Năng " "Bồ đề bổn vô thọ, Minh kính diệc phi đài Bổn lai vô nhứt vật Hà xứ nhá trần ai" Bản lai vô nhứt vật ấy như thế làm sao ? "Thị cố không trung vô sắc, Vô thọ tướng, hành, thức Vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. " Vô sắc, thinc, hương, vị, xúc, pháp; Vô nhãn giới, nãi bỏ ra vô ý thức giới; Vô vô minc, diệc vô vô minch tận Nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; Vô khổ, tập, diệt, đạo; Vô trí diệc vô đắc". Qua đoạn này, vào tướng KHÔNG: – Không ngũ uẩn : vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức . – Không lục căn: vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. – Không lục trần: vô sắc, thinc, hương,vị, xúc, pháp. – Không lục thức: vô nhãn giới, dĩ chí vô ý thức giới. – Không gồm thập nhị nhân duyên: vô vô minch diệc vô vô minch tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận. – Không bao gồm tứ diệu đế: vô khổ, tập, diệt, đạo. – Không có trí huệ, đề xuất không có đắc: vô trí diệc vô đắc. Trong tướng KHÔNG, bản lai vô nhứt vật hành giả không hề chỗ nào vướng mắc, nên được giải thoát. Giải thoát ấy như thế như thế nào ? "Dĩ vô sở đắc Bồ Đề Tát Đõa Y Bát Nhã Ba La Mật Đa Cố trung ương vô quái quỷ ngại Vô tai quái ngại cố Vô hữu khủng bố, Viễn ly điên đảo mộng tưởng Cứu cánh Niết Bàn". Dịch: "Do không có chỗ được Các Bồ Tát hành diệu pháp trí độ Được trọng điểm không ngăn ngại Do trung khu không ngăn ngại Mà ko bị lo sợ Xa lìa điên đảo mộng tưởng Đạt cứu cánh Niết Bàn" Trong đoạn này, những bậc đi trước, các Đấng Bồ Tát hành trí huệ diệu pháp mà lại xa lìa mọi điên đảo, trung ương được vô quái ác ngại. Cũng gồm nghĩa, mỗi người hành diệu pháp trí độ như những Ngài thì chứng đắc Bồ Tát, như các Ngài. Không những chứng đắc Bồ tát, Ngoài ra chứng đắc Phật quả. "Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa, cố đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề." Dịch: "Ba đời chư Phật, hành diệu pháp trí độ, yêu cầu đạt Vô thượng, chánh đẳng chánh giác". "Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, Thị Đại Thần Chú Thị Đại Minh Chú Thị Vô Thượng Chụ Thị Vô Đẳng Đẳng chú, Năng trừ nhứt thiết khổ, Chân thật bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú. Tức thuyết chủ viết: "Yết đế, Yết đế, Ba La yết Đế Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha". Dịch: "Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chụ, là Đại Minc Chú, là Chụ cao nhứt, là Crúc tột vời trừ mọi khổ nạn thật sự không giả dối, yêu cầu nói câu chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, Liền đề nghị nói câu crúc rằng : " Đi, đi, qua bờ vị trí kia, qua đến bờ bên kia được giải thoát chúc mang đến được như thế" Câu crúc là lời chúc lành, lời sách tấn hành giả của bực bề trên

6. Kết luận: Tâm Kinch góp chúng ta soi sáng sủa loại "THẬT" của thân, vai trung phong, vật, vượt qua dòng tiềm thể, dòng hiện thể để huyền đồng cùng bản thể nhưng xa lìa điên đảo mộng tưởng. Chư Bồ Tát, chư Phật đời trước y Bát Nhã Ba La Mật Đa nhưng chứng đắc, người đi sau y như thế, chứng như thế.