BÁCH PHÁP MINH MÔN LUẬN

  -  

Quyển Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận này được Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng vào năm 1970 cho các đệ tử người Mỹ nghe. Tuy có nhiều vị trong số những thanh niên này, có trình độ Thạc sĩ hay Tiến sĩ; nhưng họ không biết tiếng Hoa, không hiểu giáo lý đạo Phật. Cho nên Hòa Thượng dùng từ ngữ đơn giản nhất để diễn giải những chỗ thật khó hội khó hiểu về 100 pháp của Duy Thức. Về nội dung Hòa Thượng giảng đi giảng lại và thêm vào những lời khuyên răn. Có thể thấy rằng Ngài thật lòng tận tâm, không quản khó nhọc để độ kẻ sơ cơ.

Bạn đang xem: Bách pháp minh môn luận

Vì sách này được ghi lại qua băng cassette thâu lúc Hòa Thượng giảng nên chúng tôi cố gắng giữ nguyên văn nói của Ngài. Nhờ thế khi đọc sách này, chúng ta sẽ thấy như mình đang ở trong giảng đường của hội Linh Sơn trang nghiêm vậy. Trong lúc giảng giải, Ngài nhiều lần dùng câu chuyện “chim bồ câu” để nói lên đạo lý nhân quả và báo ứng. Nhân vì trên nóc nhà của Phật Giáo Giảng Đường ở San Francisco là chỗ chim bồ câu làm tổ, nên Ngài lấy cảnh hiện thực của hai con bồ câu để dẫn dụ với những lời dạy bảo khuyên răn. Thảo nào các thanh niên người Mỹ nhờ đó mà phát lòng tin Phật pháp. Phật giáo Mỹ quốc cũng do đây mà hưng khởi, đầy kỳ vọng vậy.Nếu những ai có duyên được xem quyển Luận này, thời chẳng nên chấp trước vào danh tướng của một trăm pháp, mà cần phải minh bạch rằng: “Tất cả pháp đều vô ngã.” Tức là phải triệt để bỏ cái ngã để tu hành. Cho nên 100 pháp này được giản yếu lại hầu giúp người đọc dễ ghi nhớ những lược đồ tóm tắt. Trong các phần, phân loại, mỗi pháp chẳng đồng nhau, nhưng nếu hiểu được mỗi loại pháp, chính là nắm được cái điều cốt yếu để thực tiễn tu hành.Thí dụ như chúng ta minh bạch rằng “Tâm pháp” nghĩa là nhãn căn đối với sắc trần do ý thức máy móc tác động, khiến cho chúng ta thấy được con bồ câu. Còn nhãn thức thì khiến cho chúng ta phân biệt thế nào về hình dáng của nó. Lại thêm, Mạt-na thức, căn bản Ý thức, từ đệ bát thức (hay Tàng thức) phát sinh, cũng cho chúng ta biết thêm những cái này là con bồ câu. Nhưng dù thế nào, tất cả các pháp này đều hư giả. Chúng ta cần phải nhận thức rõ ràng như thế hầu lìa tất cả pháp và tuyệt tất cả tướng, dần dần có thể tự mình dứt hoặc chứng chơn.Lại còn các phiền não, tùy phiền não, bất định pháp v.v.. Nếu chúng ta biết nhận thức mỗi loại pháp rõ ràng và ra công thêm thì mới có thể trị liệu được. Nghĩa là dứt được một phần vô minh tức là chứng được một phần pháp tánh. Từ những giác ngộ nhỏ mà dần dần đi lần đến chỗ giác ngộ lớn và tiến thẳng đến đạo quả vô thượng Bồ-đề. Hy vọng khi đọc xong quyển Luận này chúng ta sẽ cùng nhau cố gắng tiến tu!

Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ Quốc

Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn LuậnThiên Thân Bồ Tát tạo.

Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch

Vạn Phật Thánh Thành Hòa Thượng Tuyên Hóa Lược Giảng

*

Hòa Thượng thượng Tuyên hạ Hóa

Như lời Đức Thế tôn dạy:

Tất cả pháp đều vô ngã.

Thế nào là tất cả pháp?

Sao gọi là vô ngã?Tất cả pháp lược gồm có 5 loại:

1. Tâm pháp (Pháp tối thắng)

2. Tâm sở hữu pháp (Tương ưng với tâm pháp)

3. Sắc pháp (Pháp sở hiện ảnh)

4. Tâm bất tương ưng hành pháp (Tam vị sai biệt)

5. Vô vi pháp (Tứ sở hiển hiện)Thứ nhất, pháp tối thắng: Tâm pháp

Thứ hai, tương ưng với tâm pháp (thứ nhất)

Thứ ba, pháp sở hiện ảnh (hai pháp trước)

Thứ tư, tam vị sai biệt (ba pháp trên)

Thứ năm, pháp sở hiển thị (bốn pháp trên)

Các pháp thứ lớp như thế. Thứ nhất: Tâm pháp lược gồm 8:

1. Nhãn thức.2. Nhĩ thức.3. Tỷ thức.4. Thiệt thức.5. Thân thức6. Ý thức7. Mạt-na thức8. A-lại-da thức Thứ hai, Tâm sở hữu pháp lược gồm có 51, phân ra làm sáu hạng:

I. Biến hành có 5.II. Biệt cảnh có 5.III. Thiện có 11.IV. Căn bản phiền não có 6.V. Tùy phiền não có 20.VI. Bất định có 4.I. Biến hành có 5.1. Tác Ý,2. Xúc,3. Thọ,4. Tưởng,5. Tư.II. Năm Biệt cảnh:1. Dục,2. Thắng Giải,3. Niệm,4. Tam-Ma-Địa,5. Huệ.III. Mười một Thiện:1. Tín,2. Tinh Tấn,3. Tàm,4. Quý,5. Vô Tham,6. Vô Sân,7. Vô Si,8. Khinh An,9. Bất Phóng Dật,10. Hành Xả,11. Bất Hại.IV. Sáu Căn bản phiền não:1. Tham,2. Sân,3. Si,4. Mạn,5. Nghi,6. Bất Chánh Kiến.V. Hai mươi Tùy phiền não:1. Phẫn,2. Hận,3. Não,4. Phúc,5. Cuống,6. Siểm,7. Kiêu,8. Hại,9. Tật,10. San,11. Vô Tàm,12. Vô Quý,13. Bất Tín,14. Giải Đải,15. Phóng Dật,16. Hôn Trầm,17. Trạo Cử,18. Thất Niệm,19. Bất Chánh Tri,20. Tán Loạn.VI. Bốn Bất định:1. Thùy Miên,2. Ác Tác,3. Tầm,4. Tứ. Thứ ba, Sắc pháp lược gồm có mười một:1. Nhãn,2. Nhĩ,3. Tỷ,4. Thiệt,5. Thân,6. Sắc,7. Thanh,8. Hương,9. Vị,10. Xúc,11. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc. Thứ tư, Tâm bất tương ưng hành pháp lược gồm có hai mươi bốn:1. Đắc,2. Mạng Căn,3. Chúng Đồng Phận,4. Dị Sanh Tánh,5. Vô Tưởng Định,6. Diệt Tận Định,7. Vô Tưởng Báo,8. Danh Thân,9. Cú Thân,10. Văn Thân,11. Sanh,12. Trụ,13. Lão,14. Vô Thường,15. Lưu Chuyển,16. Định Dị,17. Tương Ưng,18. Thế Tốc,19. Thứ Đệ,20. Thời,21. Phương,22. Số,23. Hòa Hợp Tánh,24. Bất Hòa Hợp Tánh.

Thứ năm, Vô vi pháp lược gồm có sáu:1. Hư Không Vô Vi,2. Trạch Diệt Vô Vi,3. Phi Trạch Diệt Vô Vi,4. Bất Động Diệt Vô Vi,5. Tưởng Thọ Diệt Vô Vi,6. Chân Như Vô Vi.Nói về vô ngã lược gồm hai thứ: Bổ-đặc-già-la vô ngã, pháp vô ngã.

Luận Đại Thừa Trăm Pháp Minh Môn

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảngtừ ngày 17 tháng 5 đến ngày 7 tháng 6 năm 1970 tại San Francisco, Mỹ Quốc.TựaĐức Phật thuyết pháp gọi là Kinh học. Luật học, giới luật do Phật quy định. Luận học là những trước tác của chư Tổ. Kinh thì hiển bày về Định học. Luật thì hiển bày về Giới học, còn Luận thì hiển bày về Huệ học, tức là bồi dưỡng cho trí huệ.Từ lúc Phật Giáo Giảng Đường được sáng lập đến nay, có thể nói đây là lần đầu tiên chánh thức giảng “Bách Pháp Minh Môn Luận”. Tuy từ trước đã có người giảng qua luận này nhưng chỉ giảng giải rất đơn sơ khái quát. Bây giờ chúng ta cẩn thận giải thích tường tận hơn. Ở Tây phương, cách giảng giải như vầy rất hiếm vì ít người giảng Luận này, nên quý vị không có cơ hội nghiên cứu rõ ràng. Nếu quý vị chẳng minh bạch về Luận này thì chẳng rõ đường lối tu hành. Nếu chẳng rõ đường lối tu hành tất không thể thành Phật được. Không thể thành Phật thì vĩnh viễn bị luân hồi trong lục đạo từ đời này đến đời khác, sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh. Khi sanh ra bị hồ đồ mê muội, chẳng biết - Tại sao mình sanh ra đây? Đợi đến khi chết, vừa muốn biết, nhưng thời gian cũng không thể chờ đợi quý vị được, rồi lại hồ đồ mà chết đi! Tại sao quý vị từ đầu đến cuối vẫn không biết được rõ ràng như thế? Đó cũng tại vì quý vị đã không nghĩ tưởng đến “Bách Pháp Minh Môn Luận” này và cũng đã không đạt được ý chỉ của nó. Cho nên quý vị mới - sanh ra hồ đồ, chết đi cũng hồ đồ. Vậy rồi cứ quanh quẩn sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh mãi trong sáu nẻo luân hồi.Bây giờ chúng ta bắt đầu giảng về Bách Pháp Minh Môn Luận. Thế nào gọi là Bách Pháp Minh Môn Luận? Có vị bảo: “Từ trước đến nay tôi chẳng những không thấy bộ luận này mà ngay cả tên, tôi cũng chẳng nghe qua nữa!”

Không sai! Quý vị rất thành thật và rất thẳng thắn đấy. Quý vị biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, người như vậy còn có thể dạy được. Chỉ sợ quý vị không biết mà nói biết. Đợi đến khi có người hỏi quý vị -biết thế nào, thì quý vị trả lời rằng: “Ư! Tôi quên rồi!” Thế thì hỏng bét hết. Quý vị chẳng biết mà nói biết, đó là tự khi dối mình, chẳng phải dối người mà chính là dối gạt mình. Chẳng biết cho là biết, chẳng làm được cho là làm được, tôi nói cho quý vị biết đó là loại người ngu si, mê muội nhất!

Ví như tự mình vốn chưa có nghe qua về Bách Pháp Minh Môn Luận mà khi có người hỏi: “Bạn biết quyển Bách Pháp Minh Môn Luận không?” Thì bạn lại nói: “Ờ, biết chứ!” Người ta lại hỏi tiếp: “ Vậy chớ quyển đó nói về những gì?” Quý vị coi đó mới đầu thì nói biết, đến lúc hỏi chi tiết, nội dung thì lại nói là quên rồi. Đó gọi là - chẳng biết cho là biết, không được cho là được, chẳng hiểu mà cho là hiểu, chẳng tỏ mà cho là tỏ. Đó là hạng người ngu si nhất. Tại sao bị đầu thai làm heo? Đó là vì đời trước chuyên giả mạo, nói - cái gì cũng biết hết, kết quả phải đi làm heo vậy. Cho nên khi thấy loài heo tôi thật thương hại chúng lắm! Chúng chẳng biết nghe lời dạy chút nào, cũng chẳng biết y pháp tu hành ra sao, vì thế nên mới đọa làm thân heo vậy!Đây chẳng phải chỉ những là 100 pháp mà vốn có đến 660 pháp. Cũng không phải chỉ có 660 pháp vì nếu tính ra từ lúc ban sơ thời gồm cả 8 vạn 4 ngàn pháp, nhiều như thế. Trước hết đức Phật nói ra 8 vạn 4 ngàn pháp môn, mỗi mỗi pháp môn đều là con đường đi đến chỗ thành Phật. Về sau nhân vì chúng sanh căn tánh quá ngu muội và con số 84.000 thật là quá nhiều. Cho nên đức Di Lặc Bồ Tát từ bi, chọn ra trong số 84.000 pháp môn mà lập ra bộ “Luận Du Già Sư Địa” (Yochararyabhumi Shastra), gồm 660 pháp. Nhưng 660 pháp vẫn còn nhiều, nếu chỉ riêng nói về danh tướng thôi, cũng phải mất mấy năm mới ghi nhớ được. Sau đó, Ngài Thiên Thân Bồ Tát quán sát biết căn tánh Đại thừa của chúng sanh trong đời vị lai thích sơ lược ngắn gọn, nên chọn ra phần đề cương khế lãnh tối trọng yếu của Du Già Luận, 660 pháp mà biên thành 100 pháp. (Cương là những sợi dây chủ chốt. Đề cương là có thể lấy những sợi dây chủ chốt này để tạo thành mạng lưới. Khế lãnh là từ chữ cổ áo mà ra như sửa lại cổ áo cũng biểu thị sự chỉnh tề ngay ngắn.) Lại từ 100 pháp này tạo ra bộ Bách Pháp Minh Môn Luận, rất thích hợp cho chúng sanh có căn tánh Đại thừa, đọc qua dễ hiểu, dễ nhớ. Vì 100 pháp đơn giản rõ ràng nên chẳng cần phải mất một thời gian dài mấy năm để ghi nhớ các danh tướng.

Bộ luận này đối với người ngu nhất chỉ cần một giờ cũng có thể nhớ thuộc được. Còn đối với những người thông minh thì có thể hiểu rõ được 100 pháp này trong khoảng mười phút thôi. Quý vị thấy có nhanh không? Vậy chúng ta cần phải hiểu rõ 100 pháp này, vì đó cũng là cửa ngỏ tắt đi vào cửa Phật pháp. Cho nên gọi là “Minh Môn” tức minh bạch pháp nầy thì đặng vào cửa Phật pháp.

Xem thêm: Tuyển Tập Cách Luyện Giọng Nói Hay Và Truyền Cảm Chinh Phục Đối Phương

Trước khi giảng về Luận 100 pháp minh môn, tôi có vài ý kiến. Ví như ở Tây phương có một số người giảng về Phật pháp mà tôi đã gặp, đã nghe qua. Nếu quý vị muốn hỏi họ “Bách Pháp Minh Môn Luận” là gì, thì họ sẽ trả lời quý vị như sao? Họ sẽ im lặng, không nói một lời.

Đây tuyệt đối không giống như Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi cư sĩ Duy Ma Cật: Thế nào là đệ nhất nghĩa đế, mà cư sĩ Duy Ma Cật im lặng, chẳng đáp một lời. Sự im lặng đó là đệ nhất nghĩa đế. Vì nói ra tức là ly khai đệ nhất nghĩa đế. Sự im lặng đó biểu thị cho đệ nhất nghĩa đế. Đó mới chính thật là đệ nhất nghĩa đế. Nhưng100 pháp này cùng với đệ nhất nghĩa đế chẳng đồng, nghĩa là nhất định phải nói ra. Nếu chẳng nói, cứ một mực nhắm mắt ngậm miệng, ngụy trang giống như vậy rồi nói rằng - tôi học theo đệ nhất nghĩa đế, đó là sai lầm rồi. Tại sao thế? Tại vì 100 pháp này nhất định phải nói ra. Nếu chẳng nói thì không có cách nào diễn bày 100 pháp này cho được. Thế tại sao họ chẳng nói? Đó vì trong tâm họ chẳng rõ. Đừng nói chi đến 100 pháp mà ngay cả một pháp cũng không hiểu; vì không hiểu một pháp nào nên họ mới theo câu “vô pháp khả thuyết.” Quý vị muốn hỏi họ, nói những gì thì họ chỉ có thể trừng trừng mắt làm mặt quỷ, còn không thì trương khẩu há mồm: “Hừ, là vậy đó!” Quý vị nói có đáng thương không? Nhưng một pháp họ cũng không hiểu, cũng không nói được, vậy mà lại còn nói “pháp” ngoài phạm vi 100 pháp nữa. Họ nói phải nói trái, nói dọc nói ngang, nói trước nói sau, nói trên nói dưới. Những người không hiểu Phật pháp liền nói: “Ồ! Vị này thuyết pháp hay quá!” Nhưng đối với người nào hiểu Phật pháp, mới nghe qua liền nói: “Ủa! Nói cái gì lung tung thế, ổng đang giảng cái gì vậy!”

Giống như kẻ làm tiền giả để dối gạt những người nhà quê mà phần nhiều những người nầy không biết phân biệt đâu là thật, giả. Đợi đến lúc, chỗ in tiền đem lại so sánh thì mới có thể chứng minh được thật, giả. Nghe pháp cũng giống như thế, chúng ta phải có trạch pháp nhãn. Thế nào là trạch pháp nhãn? Tức là biết thế nào là pháp, là phi pháp, nhiễm pháp tịnh pháp, thiện pháp ác pháp và tà pháp hay chánh pháp. Nếu quý vị minh bạch, thấu đáo như thế rồi, đó mới chính thật có trạch pháp nhãn vậy. Ý nghĩa của trạch pháp chẳng phải nói rằng quý vị thấy người thuyết pháp có giọng lớn, biết tán xướng lại còn ngâm xướng hay nữa, khiến cho quý vị mê mẫn tâm thần. Vì bị âm thanh của người ấy cứ du dương bên tai đến nỗi tối ngủ cũng không được. Quý vị thấy có thật đáng thương không? Tôi nay thì sao? Tôi không biết hát xướng chi mà chỉ biết nói vài câu cho quý vị nghe thôi.Trọn quyển này chia ra làm bốn phần để giảng:I. Giải thích tổng quát về danh đềII. Người tạo luậnIII. Dịch giảIV. Giải thích riêng biệt về văn nghĩa (Biệt giải văn nghĩa).I. Giải Thích Tổng Quát về Danh ĐềBây giờ giảng đề mục, nhưng muốn giải thích về luận đề này trước phải giải thích 100 (bách) pháp.“Bách Pháp” (trăm pháp) chính là “một mà mười, mười mà trăm” là một trăm, do một đến mười, mười đến trăm, có nhiều pháp như thế. Trăm pháp có thể chia ra làm năm loại: Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Sắc pháp, Tâm bất tương ưng hành pháp và Vô vi pháp.Trăm pháp gồm như sau: 8 Tâm pháp51 Tâm sở hữu pháp 11 Sắc pháp24 Tâm bất tương ưng hành pháp 6 Vô vi phápKhi giảng đến phần chánh văn tôi sẽ giải thích tường tận hơn, còn giờ đây quý vị chỉ cần nghe qua danh từ thôi.“Minh Môn”: Chữ Minh trong chữ minh môn có nghĩa là minh bạch, cũng chẳng phải ngu si mà là hiểu rõ. Hiểu rõ những gì? Hiểu rõ 100 pháp. Hiểu rõ con đường dẫn vào cửa ngỏ của 100 pháp thì có thể tu hành được rồi.“Luận” là nghị luận, luận thuyết, ngữ luận, thảo luận, biện luận và nghiên cứu. Luận như thế nào? Có thể nói là thảo luận. Thảo luận tức là chúng ta cùng lại thảo luận, nghiên cứu. Tôi nói ra, nếu quý vị cảm thấy pháp nầy không đúng, quý vị có thể đưa ra lý do để thảo luận với tôi. Nghị luận là quý vị trình bày đạo lý của quý vị, tôi trình bày đạo lý của tôi, chúng ta cùng nhau đem những ý kiến đó ra phân tích. Luận cũng có thể nói là đàm luận, chúng ta cùng nhau nghiên cứu pháp nầy. Pháp chẳng phải là pháp của tôi mà là Phật pháp. Tôi giảng Phật pháp. Bất cứ ai thấy tôi giảng điều gì không đúng thì có thể trình bày lý do để chúng ta cùng nghiên cứu.

Bất luận là người từ đâu đến, nếu trình bày được lý do gì, tôi đều vui lòng hồi đáp tất cả. Đây là bao gồm cho mọi người trên toàn thế giới như người Mỹ, người Hoa hay người Nhật. Không luận là người của quốc gia nào, thậm chí cho đến những người từ mười phương đến, tôi đều vui lòng giải đáp. Thế nào là nói từ khắp mười phương đến? Nhân vì hiện đại có phi cơ và trực thăng, có thể từ trên trời xuống đất; lại có thể ngồi tàu thủy từ biển đến, cũng giống như từ đất đến. Cho nên tôi nói người từ mười phương đến, tôi đều có thể giải đáp cho họ. Chỉ cần có vấn đề để hỏi là tất cả chúng ta có thể mở một cuộc họp để cùng nhau thảo luận về Phật pháp. Không luận quý vị là tín đồ Phật giáo hay tín đồ của bất cứ tôn giáo nào, nếu có câu hỏi, tất nhiên tôi sẽ giải đáp. Dù câu hỏi có khó đến thế nào đi nữa, tôi nhất định sẽ dùng thanh kiếm trí huệ để chặt dứt trừ sự nghi hoặc và có thể cắt dứt cái lưỡi của người ngu si để đổi lại cái lưỡi trí huệ. Tôi có thể đổi lưỡi người, cũng có thể đổi đầu óc hồ đồ thành đầu óc sáng suốt. Những ai có đầu óc mê muội chẳng biết thức tỉnh thì cứ đến, nhưng việc làm này không phải miễn phí à! Tức phải trả phí tổn và chỉ tốn khoảng mười ngàn đô là có thể đổi được một bộ óc mới.Bây giờ tiếp tục giảng chữ “Luận”. Tại sao vừa rồi, tôi nói “Bách Pháp Minh Môn Luận” nhất định cần phải nói? Chẳng có cách nào để không nói, bởi vì có chữ Luận và luận tức là phải nói. Nhưng nói như thế nào? Nói gì là “phải” (thị), gì là “chẳng phải” (phi). Đó là ý nghĩa thứ nhất của chữ Luận. Phải thì chính là phải, quấy chính là quấy. Không thể lấy phải làm quấy, cũng không thể lấy quấy làm phải. Cho nên, cần phải luận rõ ràng sự việc, thí như đối với người xuất gia mà nói - tu hành là phải, chẳng tu hành là sai.Ý nghĩa thứ hai của luận là thảo luận về chánh tà. Tà nhất định là tà, chánh nhất định là chánh, quý vị không thể lấy tà làm chánh, lấy chánh làm tà, cho nên cần phải thảo luận.Ý nghĩa thứ ba là thảo luận về thiện ác. Thiện nhất định là thiện, ác nhất định là ác. Quý vị không thể lấy ác làm thiện, cũng không thể lấy thiện làm ác.Ý nghĩa thứ tư là thảo luận về nhân quả. Nhân nhất định là nhân, quả nhất định là quả. Quý vị không thể lấy nhân làm quả, lấy quả làm nhân, nhân quả cần phải phân minh rõ ràng.Ý nghĩa thứ năm là thảo luận về nhiễm tịnh. Quý vị không thể lấy nhiễm làm tịnh hay lấy tịnh làm nhiễm. Không thể điên đảo giữa thị và phi. Luận tức là đem tất cả vấn đề ra để phân biệt cho rõ ràng.Luận cũng có thể biến cải, thay đổi thị (phải) thành phi (quấy), biến phi thành thị. Bỏ cái phi đi thì chính là “thị”, bỏ thị đi rồi tức là phi vậy. Nhưng cũng có thể nói - thị không rời phi và phi không rời thị; tức thị tức phi, tức phi tức thị; tức thiện tức ác, tức ác tức thiện; tức chánh tức tà, tức tà tức chánh; tức nhân tức quả, tức quả tức nhân; tức tịnh tức nhiễm, tức nhiễm tức tịnh. Quý vị xem luận này dù ra sao đều có thể thảo luận được cả, chỉ sợ nhất là quý vị không có luận thuyết thôi. Nếu quý vị có điều luận bàn nào thì đến mà luận bàn, nói - thị là phi, phi là thị, sao cũng được hết.

Luận là nghiên cứu vấn đề thị phi phải quấy. Quý vị nói: “Thế thì sự thể như thế nào?” Quý vị chẳng biết thì nên học, học xong rồi tất sẽ biết ngay, diệu chính là ở chỗ này.Quý vị biết Phật pháp ít thì không thể cho mình biết nhiều, nếu biết nhiều cũng không thể nói là mình biết ít.Phần trên là giải thích sơ lược về đề mục của quyển Bách Pháp Minh Môn Luận.II. Người Tạo LuậnThiên Thân Bồ Tát tạo.

*

Thiên Thân Bồ Tát

Bây giờ giảng về người tạo Luận. Người viết bộ Luận này là Ngài Thiên Thân (Vasubandhu), cũng gọi là Thế Thân. Vì sao gọi là Thiên Thân? Nhân vì có người nói rằng: “Ngài là anh em của thiên chủ. Thiên chủ là anh của Ngài”. Rốt cuộc đúng hay không đúng, điều này không mấy chi quan trọng để tìm tòi khảo chứng. Đây chỉ là cách nói của một số người nào đó. Vậy cuối cùng Ngài có bao nhiêu anh em? Ngài có tất cả hai anh em, đều gọi là Bà-tẩu-bàn-đẩu, đó là tên chung cũng là dịch âm từ tiếng Phạn. Vậy còn tên riêng là gì? Anh cả gọi là Vô Trước (Asanga), đến Ngài là Thiên Thân, và em nhỏ nhất là Tỷ-lân-trì-bạt- bà (Virincivatsa). Tỷ-lân-trì (Virinci) là tên mẫu thân của Ngài. Bạt-bà (vatsa) dịch theo tiếng Hoa nghĩa là Nhi tử (con), vì vậy có nghĩa là con của bà Tỷ-lân- trì.

Ba anh em Ngài ra đời sau khi Phật diệt độ 900 năm. Tất cả đều là những người thông minh phi thường, nhưng thông minh là thông minh vậy thôi, vì mỗi người đều có những biên kiến riêng biệt. Bất quá, đó chẳng qua là câu chuyện trước kia còn sau này khi hiểu rõ rồi thì họ không còn như vậy nữa. Bởi vì anh cả Vô Trước thích vô trước, không chấp trước chi – vô sở chấp trước, chỉ riêng ái kính Phật giáo Đại thừa, không thích Tiểu thừa. Còn Ngài Thiên Thân Bồ tát thì ngược lại, Ngài chấp vào pháp Tiểu thừa, cho pháp Tiểu thừa mới là Phật pháp chính thật nhất, nên chuyên học Phật giáo Tiểu thừa. Chẳng những Ngài học tập Phật giáo Tiểu thừa mà lại còn giúp cho Tiểu thừa bài báng Đại thừa, chuyên môn phá hoại Đại thừa Phật giáo nữa. Ngài chẳng tin các kinh như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm. Quý vị coi đó! Anh thì học Đại thừa mà chẳng hủy báng Tiểu thừa. Còn người em thì thế nào? Đã học Tiểu thừa mà lại chuyên môn phê bình Đại thừa, thậm chí còn muốn tiêu diệt Đại thừa nữa.

Bây giờ trước nói về việc đấu pháp của hai anh em. Thật ra chẳng đúng nếu nói- hai người cùng nhau tranh biện với nhau mà chỉ riêng nói có người em là muốn đấu tranh thôi. Ngài Thiên Thân Bồ Tát là người học Tiểu thừa chuyên môn bài bác anh mình theo giáo pháp Đại thừa là không đúng. Nhưng anh của Ngài từ đầu đến cuối chẳng hề nói Tiểu thừa Phật giáo đúng hay không đúng. Vì tinh thần Đại thừa Phật giáo cốt đem “chẳng đúng” để cũng bao gồm vào trong, cho nên đối với việc làm của người em, Ngài chỉ thương xót chớ chẳng chút oán hận, mà còn luôn luôn tìm cách để độ cho em.

Thế là Ngài viết một lá thơ gởi cho người em nói rằng: “Chúng ta vốn là hai em thân tình với nhau, tuy chỗ học của mỗi người đều không giống nhau. Nhưng thật ra chúng ta vẫn là anh em ruột, chú là em ruột của tôi. Còn tôi là anh cả của chú. Đó là điều tuyệt đối không phải giả. Chú cũng phải tin tưởng là thật mà tôi cũng tin tưởng đúng thật vậy. Bây giờ tôi biết tôi sắp chết, tôi muốn thấy mặt chú một lần, vả lại cũng có một chút việc tưởng rằng chú có thể giúp cho tôi được mãn nguyện. Như quả chú không giúp tôi mãn nguyện chuyện này, chắc đến chết tôi cũng không nhắm mắt được.”Dù Thiên Thân Bồ Tát không thích Đại thừa Phật giáo, nhưng khi vừa xem bức thư của người anh với những lời lẽ khẩn thiết, rằng anh mình sắp phải chết, mong cầu gặp mặt mình. Quý vị thử xem, người em sao lại không đến gặp mặt người anh cho được? Tuy cả hai tin phụng giáo lý không giống nhau, anh học Đại thừa, em học Tiểu thừa, nhưng khi xem xong bức thơ, người em vô cùng cảm động nên quyết định phải đi gặp anh mình lần sau chót. Ngài Thiên Thân Bồ Tát vừa thấy người anh liền hỏi ngay:- “Sư huynh viết thư bảo em thay anh làm chút việc, như quả em không giúp được thì anh chết sẽ không nhắm mắt, vậy rốt cuộc anh bảo em làm chuyện gì đây?”- “Anh muốn nhờ em ở lại đây tụng dùm anh bộ Kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm và Hoa Nghiêm.”Người anh biết rõ em mình thông minh phi thường, dù bất cứ sách gì, nếu đọc qua một lần tức đều ghi nhớ, vĩnh viễn không quên. Bấy giờ trong lòng Thiên Thân Bồ Tát nghĩ rằng: “Lần này vì để cho anh mình được mãn nguyện, dù mình không thích nhưng cũng chỉ tụng một lần thôi!” Nghĩ thế nên Ngài thuận ý ngay. Tụng xong ba bộ kinh Đại thừa “Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, và Hoa Nghiêm” Ngài hoát nhiên minh bạch, rõ thấu những gì mình đã không đúng như: chế giễu đại thừa Phật giáo, phỉ báng kinh điển Đại thừa, cho rằng những kinh này là giả mạo. Giờ đây biết là mình đã lầm lẫn, nên Ngài vô cùng hối hận nghĩ: “Phải làm sao đây?” Tâm Ngài buồn phiền áo não và tự trách:

“Từ trước ta đã hết sức hủy báng Đại thừa Phật giáo, ta đã tạo tội lỗi quá nhiều, nhất định phải đọa địa ngục! Cái lưỡi của ta tai hại quá đỗi đi. Ta muốn lấy dao cắt bỏ cái lưỡi của mình cho rồi.”Tại sao lúc trưa này tôi nói, muốn cắt lưỡi người, như cắt cái lưỡi của người ngu si đần độn? Chính vì câu chuyện của Tổ sư Thiên Thân, vị Bồ Tát này sám hối bằng cách tự cắt lấy lưỡi ngu si đần độn của mình. Ngài nói, muốn cắt lưỡi như thế, quý vị thấy có nguy hiểm quá không? Tất cả chúng ta thử tưởng tượng, nếu tự mình cầm dao rồi kéo lưỡi thẳng ra để cắt bỏ, đó không phải là một trò chơi hoặc chuyện nói đùa đâu. Bởi vì Ngài thật muốn cắt lưỡi mình mà!Vô Trước Bồ Tát đứng một bên thấy cảnh tượng như thế, hết sức kinh khiếp nói:

- “Nhị đệ, em làm gì vậy? Mau nói cho huynh nghe đi!”

Bây giờ Thiên Thân Bồ Tát đáp lại bằng một giọng rất bi ai:

-“Cái tội của em thật không thể dung thứ, vì từ trước em đã hủy báng Đại thừa Phật giáo một cách quá đáng. Bây giờ em vừa đọc được ba bộ kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm và Hoa Nghiêm mới biết rằng giáo lý Đại thừa quá ư vi diệu! Lúc trước em đã cực lực hủy báng Đại thừa, tội này chẳng lẽ nhất định không đọa vào địa ngục Bạt-thiệt sao? Bây giờ còn sống, nghĩ rằng- em nên cắt bỏ đầu lưỡi đi để đền bù lại tội lỗi xưa vậy.”Ngài Vô Trước Bồ Tát liền khuyên rằng:- “Nhị đệ, em không nên khờ dại, ngu si như vậy. Em có thể đổi lưỡi được mà!”.- “Làm thế nào để đổi đây?”- “Lúc trước em đã dùng nó để hủy báng kinh điển Đại thừa. Bây giờ em đổi cách nói lại là dùng lưỡi của em để tán thán kinh điển Đại thừa. Như thế không được sao? Hà tất lại phải cắt bỏ nó chớ.”- “Đúng rồi! Nếu như em cắt bỏ lưỡi đi thời cũng không giúp được gì cho kinh điển Đại thừa. Trái lại nếu em không cắt lưỡi, thì em có thể có dùng lưỡi hũy báng trước kia trở lại xưng tán Đại thừa Phật giáo, như thế thì chẳng hay hơn sao?”Ngài Thiên Thân vừa nghĩ như thế xong, trí huệ vốn sẵn của Ngài cũng bỗng nhiên hiện bày. Thế rồi, Ngài lập ra bộ Bách Pháp Minh Môn Luận với nhịp văn trôi chảy, một mạch từ đầu đến cuối.Thiên Thân Bồ Tát có dũng khí rất lớn. Ngài chính thật là một con người biết cải hối hoàn toàn. Cho nên từ đó về sau tất cả những bộ luận Ngài viết đều là tán thán Đại thừa và đốt hết các sách Ngài chê bai Đại thừa Phật giáo lúc trước. Vì thế hiện nay chỉ còn lưu lại những bộ luận tán thán Đại thừa Phật giáo mà thôi.Như trên là nói về chuyện của Tổ sư Thiên Thân, tiếp theo là giải thích hai chữ Bồ Tát. Bồ Tát cũng tức là Bồ-đề Tát-đỏa. Người Hoa thích nói tóm gọn, nên chỉ xưng là Bồ Tát. Bồ-đề-tát-đỏa là tiếng Phạn, dịch là “giác hữu tình”, cũng gọi là “hữu tình giác”. Thế nào là “giác hữu tình?” Giác này là giác ngộ, nhưng giác ngộ ai? Giác ngộ tất cả loài hữu tình. Đó là một lối giải thích. Nếu tự mình giác ngộ, tự mình khai mở trí huệ, lại đem sự giác ngộ ấy để thức tỉnh tất cả chúng hữu tình khác. Thế nào là “hữu tình giác?” Bồ Tát cũng là một chúng hữu tình, cũng là một chúng sanh, nhưng chẳng qua Ngài đã giác ngộ rồi. Ngài là một chúng sanh giác ngộ trong số các chúng sanh. “Giác hữu tình” là chúng sanh đã giác ngộ, rồi giác ngộ lại các chúng sanh khác. “Hữu tình giác” tức là một người đã giác ngộ trong số các chúng sanh, đó cũng là Bồ Tát vậy.Vì danh xưng Bồ Tát rất hay đẹp, cho nên có nhiều người muốn làm Bồ tát, cũng muốn tự phong cho mình cái nhãn hiệu Bồ Tát. Rồi còn bảo mọi người gọi mình là Bồ Tát. Vì thế, người xuất gia ở Trung Quốc đều xưng tán, khen ngợi với nhau: “A! Lão Bồ Tát, ‘Ngài...’ đã đến rồi!”

“Đúng vậy, Lão Bồ tát, Ngài đã đến rồi!” Đó là câu mà những người xuất gia dùng để chào hỏi lẫn nhau. Tiếng xưng hô Bồ Tát là thuộc về người ngoài tôn xưng mình, chớ chẳng phải mình tự bảo với người: “Ông nên gọi tôi là Bồ Tát đi!” Ngài Thái Hư đã từng nói: “Mọi người nên gọi tôi là Bồ Tát. Vì sao? Vì tôi đã là Tỳ kheo nhưng chưa thành Phật.” Tức là nói, tôi đã thọ giới rồi, lại thọ thêm giới Bồ Tát nữa. Cho nên quý vị không nên gọi tôi là Tỳ kheo mà nên gọi tôi là Bồ Tát. Nhưng không được xưng tôi là Phật, vì tôi chưa thành Phật.” Ngài nói như thế cũng không nhất định là bảo người ta gọi Ngài là Bồ Tát, chẳng qua là Ngài nói đùa với mọi người vậy thôi! Vì Đại sư Thái Hư xưa kia cũng chính thật là Bồ Tát. Quý vị có gọi Ngài là Bồ Tát hay không, Ngài vẫn là Bồ tát. Gọi một tiếng Bồ Tát thì Ngài không thêm được chút gì. Không gọi là Bồ Tát thì Ngài cũng chẳng mất mát chi. Ngài cố ý đùa cợt với các chúng sanh ngu muội mà thôi! Phật sống Kim Sơn cũng có một câu nói tương tợ: “Quý vị phải gọi tôi là Phật sống đó!” Điều này cũng có ý nghĩa giống như câu chuyện của Đại sư Thái Hư.Vậy có phải Thiên Thân Bồ Tát tự mình viết câu “Thiên Thân Bồ Tát tạo” trên bộ Luận Bách Pháp Minh Môn không? Không phải thế. Lúc bấy giờ, Ngài chỉ viết câu: “Thiên Thân tạo”. Nhưng vì lớp người hậu học muốn tôn trọng Ngài nên đề thêm danh hiệu “Bồ đề Tát đỏa” (Bồ tát) như vậy. Tôi tin rằng Thiên Thân Tổ Sư tuyệt đối không khi nào viết thêm vào danh nghĩa Bồ Tát như vậy.Chúng ta căn cứ vào điểm đó để nghiên cứu học hỏi mà không nên ham cầu danh tiếng. Cổ ngữ có câu: “Thượng sĩ vô danh, hạ sĩ háo danh” - Bậc thượng sĩ thì không muốn tên tuổi, kẻ hạ sĩ thì ham danh. Vậy quý vị muốn làm thượng sĩ cũng được, muốn làm hạ sĩ cũng xong. Đó là hoàn toàn do chính quý vị quyết định.Đến chữ “tạo” có nghĩa là tạo tác, cũng là trước tác. Thiên Thân Bồ Tát viết bộ “Luận Bách Pháp Minh Môn” rất ngắn nên tôi hy vọng sẽ giảng xong trước khi khai khóa học hè.III. Dịch GiảĐời Đường, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch.

*

Pháp sư Huyền Trang

Bây giờ giảng đến người phiên dịch. Bộ luận này do Ngài Thiên Thân Bồ Tát viết, nhưng Ngài viết bằng tiếng Phạn, cũng là một loại cổ văn của Ấn Độ, nên cần phải phiên dịch để cho người Ấn Độ cùng người nước ngoài hiểu được. Vì thế lại cần thêm người phiên dịch. Hôm nay chúng ta nhân bộ luận này mà hiểu được tất cả Phật pháp để nương theo đó mà tu hành và đều nhờ vào người phiên dịch giúp chúng ta đấy. Cho nên chúng ta cần biết người phiên dịch bộ luận này là ai? Và Ngài đã cống hiến những gì cho Phật giáo.“Đường” chính là đời nhà Đường. Vào thời đại nhà Đường có một vị xuất gia, là người đã cống hiến cho Phât giáo vĩ đại nhất, có thể nói là từ xưa tới nay không ai bằng vị Pháp sư này. Ngài họ Trần, thân phụ của Ngài là một vị quan nghèo, chẳng phải là quan có tiền của. Vì sao thế? Vì người chẳng tham ô, chẳng muốn tiền của bá tánh, thậm chí đến tiền của chánh phủ người cũng chẳng ham. Chẳng giống như những người làm quan thời bây giờ, toàn nghĩ vì lương bỗng quá ít nên phải tìm nhiều mưu đồ để được lợi lộc, như thương mãi hay kể cả việc lợi dụng bá tánh.Vị quan thanh liêm này vì chẳng tham tiền cho nên cả đời vẫn là vị quan nghèo. Tuy là quan nghèo, nhưng người đã tích chứa được nhiều phước đức nên mới sanh ra được mấy người con trai hiếu thảo và riêng có hai vị xuất gia. Anh của Ngài Huyền Trang cũng là vị xuất gia tu đạo, giảng kinh thuyết pháp đương thời rất đạo hạnh. Còn Huyền Trang Pháp sư thì sao? Ngài xuất gia năm 13 tuổi, sau đó rất chuyên cần học tập Phật pháp. Bất luận nơi nào có Pháp sư giảng kinh hay luật luận, dù xa bao nhiêu đi nữa Ngài cũng đều tìm đến dự nghe, trừ phi chẳng có giảng sư mới thôi. Xa xôi bất kể, mưa gió chẳng cần, thậm chí khi nghe kinh mà bụng đói Ngài cũng chẳng màng! Ngài thường lấy pháp để no lòng, lấy Phật pháp làm cơm ăn thức uống. Trải qua năm năm như thế, sau đó Ngài mới thọ Cụ-túc giới. Trong thời gian năm năm này Ngài cũng đi khắp nơi để nghe kinh, cầu học Phật pháp. Nhưng sau năm năm học tập, Ngài luôn cảm thấy đạo lý giảng giải của mỗi vị Pháp sư đều không đồng nhau; cùng là một bộ kinh đó, nhưng vị Pháp sư này giảng như vầy, vị Pháp sư kia giảng như nọ. Các nghĩa lý của Pháp sư có trí huệ với Pháp sư không trí huệ lại có phần xung đột với nhau. Song, không phải Ngài Huyền Trang chưa khai ngộ, không có trạch pháp nhãn, chẳng biết người nào đúng, người nào chẳng đúng mà sự thật là vậy. Cũng như hôm qua tôi nói:

“Nếu quý vị hiểu Phật pháp thì sẽ biết người nào giảng đúng hay không đúng. Nếu không hiểu thì sẽ không biết gì cả. Cho nên tôi nói, hát to lên một chút, người chẳng hiểu Phật pháp cho rằng đó là Phật pháp, còn người hiểu Phật pháp thì nói: “A! Thì ra là ổng đang hát một bài ca.”

Lúc bấy giờ Ngài Huyền Trang nghe nhiều bộ kinh như vậy và nhận thấy những đạo lý không đồng nhau. Ngài cũng chẳng biết đâu là đúng, đâu là sai. Vậy làm sao đây? Ngài hoàn toàn không biết phải nương theo lối giảng pháp của vị Pháp sư nào nữa? Rồi sau đó Ngài mới phát nguyện. Phát nguyện gì? Vì biết Phật pháp được truyền vào từ Ấn Độ, Ngài tin tưởng rằng ở Ấn Độ tất nhiên là nơi tồn tại Phật pháp chân chánh nên Ngài dâng sớ lên Hoàng đế Đường triều, thỉnh cầu được xuất ngoại đến Ấn Độ cầu pháp. Nhưng Hoàng đế không cho, không chịu phê chuẩn gì cả. Ngài Huyền Trang vì chí nguyện, ước vọng muốn đi nên trong lòng nghĩ: “Hoàng đế không cho, ta cũng phải đi. Thà trái mệnh lệnh của nhà vua, dù phải bị chặt đầu, ta cũng phải đi cầu pháp.”

Rồi Ngài trở về chùa tập luyện phương pháp trèo núi qua đèo. Ngài luyện tập như thế nào? Trong chùa, Ngài dựng bài bàn ghế cao giống như ngọn núi, rồi từ cái ghế này nhảy qua cái bàn kia. Nhảy qua xong lại từ chỗ cái bàn mà nhảy lên chỗ cao hơn nữa. Từ sáng tới chiều, Ngài tập luyện leo núi nhảy qua, nhảy lại như vậy. Đại khái là vì chung quanh nơi Ngài ở không có núi cao, cho nên phải tập luyện ngay trong chùa của Ngài như vậy. Có những chú tiểu Sa-di, đại Sa-di, lão Sa-di chẳng hiểu Ngài đang làm cái gì. Họ tưởng nghĩ: Không biết Ngài làm trò hý lộng, chơi đùa gì đây? Có người trách móc nói: “Ông này chẳng lo tụng kinh tu hành chi hết, suốt ngày cứ lo trèo nhảy, chẳng biết ổng làm cái trò huyền hoặc gì nữa.” Pháp sư Huyền Trang cũng chẳng thèm nói riêng với ai về việc “mình muốn luyện tập để trèo núi Hy-mã-lạp sơn.” Có số người còn cho Ngài thuộc loại phá phách nghịch ngợm. Như thế trải qua một thời gian rèn luyện nên chân và thân thể Ngài trở nên khoẻ mạnh cứng rắn hẳn ra. Sau đó Ngài từ Trường An đi về phía Tây, mở đầu cho cuộc hành trình muôn dặm. Lúc bấy giờ không có máy bay, tàu thủy, xe hơi hay xe lửa, mà chỉ có thuyền bằng cây không chắc chắn cho lắm. Vì không được nhà Vua chấp nhận nên Ngài không thể đi bằng thuyền. Ngài bèn quyết định đi bằng đường bộ, trải qua nhiều quốc gia vùng Tây-bá-lợi-á (Siberia) rất gian nan rồi mới tới Ấn Độ. Dường mới đó mà Ngài đã đi được hơn cả 10 năm. Trước khi đi Ấn Độ, vua Đường Thái Tông đã từng hỏi Ngài rằng: “Trẫm không cho Thầy đi mà Thầy cũng nhất định đi. Vậy Thầy định sẽ bao giờ mới trở về?”Pháp sư Huyền Trang tâu với vua Đường Thái Tông rằng: “Bây giờ Bệ hạ thấy ngọn cây tùng này ngã về phía tây, đợi chừng nào nó ngã về hướng đông thì chừng đó tôi sẽ trở về.” Chớ Ngài chẳng nói thời gian là bao nhiêu năm nữa.Pháp sư Huyền Trang đến Ấn Độ rồi, Ngài không hiểu ngôn ngữ ở đó nên phải trải qua một thời gian từ từ học hỏi mới biết được tiếng Ấn Độ cùng tiếng Phạn, rồi lại cũng theo nhiều vị Pháp sư học tập Phật pháp. Ở đó Ngài chịu rất nhiều gian nan khốn khổ. Học thành tài xong, Ngài liền trở về Trung Quốc. Khi Ngài trở về nước quả nhiên ngọn cây tùng đã nghiêng về hướng đông. Khi đó vua Đường Thái Tôn cũng xem thấy ngọn cây tùng đã nghiêng về hướng đông, liền nói rằng: “A! Hôm nay Huyền Trang Pháp sư đã về đến nơi rồi chúng ta phải mau ra nghinh đón.” Sau đó vua phái một số viên quan ra Tây môn tiếp đón. Quả nhiên Ngài Huyền Trang đã về đến nơi.Sau khi Ngài Huyền Trang về nước, Ngài chuyên lo việc phiên dịch kinh điển. Ngài dịch kinh điển tiếng Phạn nước Ấn sang văn tự Trung Hoa. Ngay trong năm Ngài dịch bộ Kinh Đại Bát Nhã, hoa đào nở hoa sáu lần. Đó tức là nói về cây đào ở trong chùa của Ngài ở, trong một năm đã nở và tàn tổng cộng sáu lần. Đây là điềm kiết tường của việc dịch bộ kinh Đại Bát Nhã, chẳng những làm cho trời và người hoan hỷ mà đến cả cỏ cây cũng vui mừng kết trái đơm hoa. Do đây mới thấy rằng Kinh Đại Bát Nhã đối với chúng ta thật là quan trọng. Ngài Huyền Trang Pháp sư phiên dịch rất nhiều kinh điển. Khi còn ở Ấn Độ, Ngài cũng đi chiêm bái xá-lợi Phật, răng Phật, xương Phật. Lại cũng đến nơi mà từ ngàn đời xa xưa, tiền thân của Đức Phật đã xả bỏ đầu mắt tủy não. Và Ngài cũng đến chiêm bái các nơi khi xưa đức Phật tu hạnh nhẫn nhục, thí thân cho cọp đói, và Bồ Đề đạo tràng nơi Phật thành đạo. Tất cả những thắng tích Phật giáo Ngài đều đến chiêm bái tỏ lòng thành cung kính. Khi Ngài gặp những người xuất gia ở Ấn Độ, vô luận là người có tu hành hay không Ngài đều cung kính đảnh lễ các vị Pháp sư, tâm không chút nào kiêu ngạo hay ngã mạn cống cao. Sau khi học thành tài, đã từng có nhiều vị Pháp sư Tiểu thừa đến biện luận với Ngài. Họ đều bị Ngài hàng phục mà không cách nào thắng nỗi Ngài. Và cũng có rất nhiều ngoại đạo đến tranh biện với Ngài, cũng đều bị Ngài chiết phục luôn.Chúng ta gọi Ngài Huyền Trang là Đường triều Tam Tạng Pháp sư. Thế nào là Tam Tạng Pháp sư. Tam Tạng là kinh tạng, luật tạng, luận tạng. Vị Pháp sư này thông suốt cả ba tạng: Biết giảng kinh, giảng luật và giảng luận, Kinh - Luật - Luận đều thông đạt vô ngại, thế nên mới gọi là Tam Tạng Pháp sư. “Pháp sư” tức là người lấy pháp bố thí cho người, hoặc lấy pháp làm thầy. Vị Tam tạng Pháp sư này tên là Huyền Trang. “Huyền” là huyền diệu, hiếm có người thấy rõ. Chữ “Trang” nghĩa là rất vĩ đại cũng tức là chữ “Tráng” thêm chữ “Đại” phía dưới thành chữ “Trang”. Những việc Ngài Huyền Trang Pháp sư làm rất phi thường, vĩ đại mà người thường đều không ai làm được. Cho nên nói, Ngài là một bậc xuất chúng trội hẳn hơn người. Bộ Bách Pháp Minh Môn luận là do Ngài phiên dịch. Ngài thông minh có trí huệ, lại thông thạo về Trung văn cũng như Phạn văn. Cho nên Ngài dịch kinh điển không sai sót, lầm lẫn. Ngài dịch bộ luận này rất đáng cho chúng ta tin tưởng. Phần trên là tôi giới thiệu giản lược về người phiên dịch.Thời bấy giờ Ngài Huyền Trang Pháp sư cùng với hơn 800 vị Tỳ kheo chung nhau lo việc phiên dịch kinh điển do Phật thuyết. Trong đó có nhiều người tài giỏi, nổi tiếng nhất là Khuy Cơ Pháp sư, cũng gọi là “Tam Xa” Tổ sư. Vì sao gọi là Tam Xa Tổ sư ? Nhân vì khi chưa xuất gia, Ngài có thỉnh cầu Hoàng đế cấp cho Ngài ba chiếc xe luôn luôn theo bên Ngài. Không luận Ngài đi đâu, đều phải có ba chiếc xe đó theo sau Ngài. Đây là câu chuyện lúc Ngài chưa đi tu. Ba xe đó là một chiếc xe chở rượu. - Xưa nay người tu vốn không được uống rượu, nhưng Ngài nói Ngài là người ngoại lệ. Nhân vì lúc vua bảo Ngài xuất gia, nên Ngài ra điều kiện: “Nếu Bệ hạ bảo thần đi tu, thì phải cấp cho thần một xe rượu. Người tu cấm uống rượu nhưng thần nhất định uống”. Kế đến Ngài yêu cầu vua cấp cho một xe thịt, vì uống rượu là phải ăn thịt. Sau hết còn muốn một xe mỹ nữ. Cho nên Ngài có biệt hiệu là Tam Xa Tổ sư.

Thật ra Tam Xa Tổ sư không phải là người bình thường. Vì nếu là người bình thường Ngài đã không dám đòi phải có ba xe mới chịu xuất gia. Bởi vì Ngài là con người rất đặc biệt. Tiền thân của Ngài đã gặp Huyền Trang Pháp sư đang lúc trên đường đi thỉnh kinh. Khi ấy bên đường có một vị trưởng lão đang ngồi thiền, mà y phục trên người bụi đất bám dầy độ một hai tấc. Tóc trên đầu là chỗ chim đến làm tổ, đẻ trứng, sanh con luôn trên đó. Ngài ở đó nhập định, không biết đã bao lâu rồi?

Quý vị thử nghĩ xem: Trên thân của Ngài bụi đất đóng dầy đến hai ba tấc, bụi bám trên mặt mũi cũng không biết dày cở nào nữa, cho nên chim chóc cũng không hề sợ chi tới Ngài. Chúng cứ tha hồ đến làm tổ, sinh trứng ấp con trên đầu Ngài không biết bao nhiêu lần và trải qua bao nhiêu năm nữa. Ngài Huyền Trang đến nơi bèn dùng cái khánh để gọi Ngài xuất định. Vị Trưởng lão này không biết nhập định từ bao giờ, nhưng khi xuất định thì không thể di động, cứng ngắt như khúc cây vậy. Ông mới hỏi: “Ngươi cớ chi mà kêu ta xuất định hả?”Huyền Trang Pháp sư đáp: “Này trưởng lão, ông đã nhập định ở đây được bao lâu rồi? Tại sao mà ông vẫn còn không chịu xuất định?”- “Ta ở đây đợi Đức Phật Thích Ca ra đời, hầu trợ giúp Ngài hoằng dương Phật pháp.”- “A! Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã nhập Niết-bàn rồi. Tại sao ông vẫn không biết mà còn ở đây nhập định?”- “Hiện bây giờ là triều đại nào?”- “Tôi là người nhà Đường. Bây giờ là năm Trinh Quán nguyên niên.”- “Không gấp đâu, tôi sẽ ở đây chờ đến khi đức Phật Di Lặc ra đời là xong.” Nói rồi, ông liền sửa soạn nhập định tiếp.Ngài Huyền Trang vội nói với ông rằng: “Này lão Bồ Tát, ông không nên nhập định nữa, không chi bằng hãy cùng tôi hoằng dương Phật pháp nhé! Tuy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết-bàn, nhưng giáo pháp của Ngài vẫn còn ở thế gian. Ông cũng có thể giúp tôi hoằng dương Phật pháp mà!”- “Vậy làm thế nào để giúp đây?”-“Ông hãy đến Trường An tìm một tòa nhà ngói vàng mà thác sanh, hóa kiếp vào đó. Vậy xin ông hãy đến đó trước rồi chờ tôi, chúng ta cùng chung lo mở mang Phật pháp, có được không?”Ngài Huyền Trang nói thế vì thân thể ông lão đã không thể dùng được nữa nên phải thay thân khác. Giống như ngôi nhà đã hư hoại nên phải đổi căn nhà mới vậy.- “Được lắm! Được lắm chớ!”Trưởng lão lập tức đáp lời, rồi thẳng đến Trường An mà thác sanh.Khi Pháp sư Huyền Trang thỉnh kinh từ Ấn Độ trở về, Ngài bèn tìm đến vua Đường Thái Tông, chúc mừng rằng: “Sau khi tôi đi rồi Bệ hạ có thêm một vị Thái tử, thật là một việc đáng mừng!”-“Nào có đâu!” Vua Đường Thái Tông đáp.Bấy giờ Ngài Huyền Trang bèn quán sát: “À! Thì ra Trưởng lão đã đi nhằm đường đến nhà của tướng Uất Trì Cung mất rồi.”Uất Trì Cung là một quốc công, một danh đại tướng của vua Đường Thái Tông. Khi ông sanh ra đã có bộ mặt đen nhưng không phải là người da đen, vì thân thể ông không bị đen mà chỉ đen nơi mặt thôi. Ông rất có bản lãnh, từng giúp cho Đường Thái Tông trị vì thiên hạ, lập rất nhiều chiến công. Trưởng lão này phần nhiều làm việc gì đều là đại khái qua loa, không cẩn thận lắm. Thật ra, Ngài Huyền Trang bảo ông tới nhà ngói vàng nhưng ông lại tìm nhầm, đến nhà ngói xanh. Nhà ngói xanh là phủ của Uất Trì Cung, còn ngói vàng mới chính là Hoàng cung. Vì ông lão đi nhầm đường đấy nên mới thác sanh vào làm con người anh của tướng Uất Trì Cung.

Khi lớn lên ông (người cháu) rất thích uống rượu, ăn thịt và vui đùa với mỹ nữ. Có lẽ vì ông tọa thiền ở đó không biết bao nhiêu kiếp chẳng xuất định và lúc ngồi thiền ông vẫn còn có đôi chút vọng tưởng như: “A! Thịt thì chẳng tệ, rượu uống cũng ngon, nữ nhân thì cũng tạm được...” Vì vậy khi thác sanh trở lại làm người, ông không thể bỏ được ba món đó.Khi Ngài Huyền Trang tìm ra tông tích rồi, liền tìm gặp ngay tướng Trì Uất Cung nói rằng:

“Cháu của ông chính là do tôi bảo tới để giúp tôi hoằng dương Phật pháp đấy!”

Uất Trì Cung nói: “Pháp sư kêu cháu nó đến được thì bảo cháu nó đi đi!”

Nhưng khi Ngài Huyền Trang bảo y xuất gia, y đã không chịu mà còn nói rằng: “Ai mà muốn xuất gia chớ? Đi tu có gì vui thú đâu? Tôi hỏng chịu đi tu đâu!”Bấy giờ Pháp sư Huyền Trang mới đến giải bày với vua Đường Thái Tông về các nhân duyên mọi lẽ. Nhà vua bảo rằng:

-“Vậy ta sẽ hạ thánh chỉ, bảo nó xuất gia.”

Ngài Huyền Trang nói:

- “Như quả nó bằng lòng xuất gia, nó nhất định sẽ đặt điều kiện. Bất luận nó ra điều kiện gì cũng xin Hoàng thượng đáp ứng cho, chỉ cần nó chịu xuất gia là đủ rồi.”- “Được, vậy cứ như thế mà làm!”Sau đó vua cho triệu cháu của Uất Trì Cung tới cung điện rồi bảo y xuất gia. Trung Quốc thời bấây giờ không nói gì là dân chủ hay tự do gì cả. Không phải muốn đi tu thì đi, còn không muốn thì thôi. Một khi Hoàng đế bảo quý vị xuất gia, nếu quý vị cải lệnh thì phải chết, có thể bị chém đầu. Vì sợ bị đứt đầu nên người cháu chấp nhận đi tu, nhưng y yêu cầu phải có điều kiện: “Muốn được một xe rượu, một xe thịt và một xe mỹ nhân.” Vua Đường Thái Tông đều bằng lòng hết về các điều kiện của y.Người cháu này không còn cách nào từ chối nữa, đành phải nghe theo sự an bày, tức là đến Chùa Đại Hưng Thiện để xuất gia. Khi đến, Chùa bèn nổi chuông trống nghinh đóùn y, vừa nghe được tiếng chuông trống y hoát nhiên khai ngộ, minh bạch rằng- mình vốn là một lão tu hành đã từng ở trên núi tu đạo. Thế rồi quay ra phía sau, y khoát tay nói: “Tất cả mọi người hãy quay trở về đi. Bây giờ ta không cần nữa!” Tuy không còn muốn ba xe nữa, nhưng cũng có một số người vẫn gọi Ngài là Tam Xa Tổ sư (Tổ sư ba xe).IV. Biệt Giải Văn NghĩaNhư lời Đức Thế tôn dạy:Tất cả pháp đều vô ngã.

Xem thêm: Bài Hát Đời Không Như Là Mơ, Doi Khong Nhu La Mo By Che Thanh On Amazon Music

Chữ “như’” giảng là “chính như” tức là đúng như những lời đức Thế Tôn đã thuyết. Thế Tôn là một trong mười hiệu của Phật. Phật là bậc tôn kính của thế và xuất thế gian, nên gọi là Thế Tôn. Đây là những lời của Đức Thế Tôn. Ngài thuyết những gì? Là “tất cả pháp” đều phải vô ngã. Tại sao phải là vô ngã vậy? Cái “ngã” này của tôi thật sự hiện hữu ở đây mà sao lại nói là vô ngã chớ? Cứ kể như cái ngã đó của quý vị là ở đây đi. Nói vậy sẽ có người thắc mắc: “Nói vô ngã nhưng cái ngã thật sự đang hiện tiền ở đây, như thế thì làm sao gọi là vô ngã được?”Cứ xem như cái ngã của quý vị thực sự hiển hiện ở đây. Vậy đợi đến khi quý vị chết, thân quý vị vẫn còn đó, nhưng cái ngã của quý vị đã đi đâu rồi? Nếu nói có cái “ngã” không còn nữa, thì lúc chết, ngã này không còn luôn, vậy lúc sống làm sao thật có “ngã” chớ?

Đây là điều chúng ta đáng nghi vấn.Đức Phật dạy tất cả pháp đều vô ngã. Quý vị đừng giống như có một số người không biết gì, ngay cả chữ pháp còn không hiểu mà lại nói: “Kinh pháp này do tôi giảng đó.” Họ luôn đưa cái ngã ra phía trước. Vừa rồi chúng ta phóng sanh thả 36 chim bồ câu nhưng vẫn còn hai con ở lại. Quý vị có biết tại sao chúng thành bồ câu không? (Trên sân thượng của Phật Giáo Giảng Đường thường có bồ câu qua lại.) Tại vì chúng đều có “ngã”. Lúc làm người, chúng không thực hành theo pháp Phật thuyết, chúng không thể nào vô ngã được, có “ngã” rồi nên mới đọa lạc làm phi cầm, súc sanh.Cái ngã này chính là ngã kiến mà chúng ta không nên có. Trong kinh Kim Cang nói: “Không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.” Đấy cũng chính là không có ngã kiến. Nói sâu thêm một chút, chẳng những “ngã” không nên có mà ngay cả “pháp” cũng không nên có luôn. Tất cả pháp đều không có, cho nên “ngã” càng không nên tồn tại được. Do vậy, người tu đạo nên phải đạt đến hai chữ vô ngã này thì mới có thể viên mãn được các pháp. Nếu quý vị có thể đến chỗ vô ngã, thì tất cả pháp đều viên dung vô ngại. Chúng ta lấy ra một pháp nào thì cũng đều là pháp giới, vì đó tức là pháp giới tánh và tất cả pháp đều hiện tiền trước một pháp. Tuy các pháp hiện tiền, nhưng lại không có một pháp nào cả. Diệu là diệu ở chỗ này, mà khó cũng khó ở đây.

Tất cả pháp hiện tiền nhưng không chấp vào các pháp nào cả. Không có các tướng, tất cả pháp tướng đều không còn nữa. Khi đạt đến trình độ này mới thật là viên dung vô ngại, được đại tự tại. Nếu quý vị không có ngã thì mới được tự tại, còn như không thể không ngã thì không thể tự tại được. Nhưng làm thế nào để không có ngã đây? Thật là không phải dễ dàng đâu.Có người nói: “Tôi hiện đang ở tại đây nghe kinh, sao Thầy lại nói là tôi không có ngã, tức là tôi không có ở đây sao?” Quý vị đang nghe kinh ở đây, nhưng quý vị nếu có thể thật sự không biết mình đang ở đây, bỏ ngã đi, tức là không có cái ngã; vô nhân, vô ngã, cũng là không có người, cũng không có mình, cũng không có pháp, nhân không, pháp không.Sở dĩ quý vị cho là - không thể không có quý vị được, là vì quý vị còn có chấp trước. Chấp trước những gì? Chấp trước cái giả ngũ sắc, thân ngũ uẩn này là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức –cho là mình. Kỳ thật, như có phải tôi vừa nói không? Khi quý vị chết rồi, vẫn còn cái thân thể này, nhưng không còn tri giác nữa. Vậy thì cái ngã đó chạy đi về đâu? Cái ngã đó của quý vị to lớn như núi Tu-di, nhưng đến khi chết nó chạy đi đâu cũng chẳng biết gì nữa cả. Như vậy quý vị nói có đáng thương không? Còn ngoại đạo thì sao? Họ chấp vào một cái ngã, lại có một cái tiểu ngã, rồi thần ngã. Cái “Ngã” này họ có nhiều như thế đó. Họ cho rằng: Không có gì lớn bằng “đại ngã” và cũng không có gì nhỏ hơn để so sánh với tiểu ngã được. Cái thần ngã theo họ là có công dụng nhất và ở giữa trung gian của tiểu ngã và đại ngã. Đó là sự chấp trước vào Thần ngã của ngoại đạo cũng tức là cái ngã của ngoại đạo vậy.Lại có Tiểu thừa thiên kiến, nghiêng chấp trước vào Niết bàn. Họ cho cái thiên kiến đó là “ngã”. Còn Bồ Tát thì sao? Bồ Tát cũng có cái chấp trước, chấp có chúng sanh để độ, có Phật đạo để cầu, có cảnh giới Chân như để tu chứng. Nghĩa là các Ngài chưa đạt đến chỗ vô chứng cũng vô đắc. Các Ngài hãy còn chấp có sở chứng sở đắc, cũng còn biết chứng đắc cái Chân như, cho nên không quên được cái ngã, vẫn còn có một cái ngã. Có ngã tức là có vọng. Cho nên các pháp đức Phật thuyết là phải đem tất cả pháp đều dùng vô ngã để tu hành và đạt tới cảnh giới Đại thừa tối thượng.Dưới đây là phần luận văn do Ngài Thiên Thân tạo ra:

Thế nào là tất cả pháp?

Sao gọi là vô ngã?Tất cả các pháp là gì? Thế nào là vô ngã?Tất cả pháp lược gồm có 5 loại:

1. Tâm pháp (Pháp tối thắng)

2. Tâm sở hữu pháp (Tương ưng với tâm pháp)

3. Sắc pháp (Pháp sở hiện ảnh)

4. Tâm bất tương ưng hành pháp (Tam vị sai biệt)

5. Vô vi pháp (Tứ sở hiển hiện)

Đây sơ lược tất cả pháp gồm có 5 loại và chỉ có thể giảng đại khái chớ không thể đi sâu vào. Nếu giảng cho tận tường thì có quá nhiều chi tiết.“Một là tâm pháp.” Thứ nhất là tâm pháp (citta-dharmah), cũng tức là tâm vương, là vua của tất cả pháp. Vì tất cả các pháp đều do từ tâm pháp này khởi ra. Nếu không có tâm vương thì không có các pháp. Nên nói “Phật thuyết tất cả pháp để độ tất cả tâm, nếu không có tất cả tâm, dùng chi tất cả pháp?” Tâm pháp tức là pháp của tâm vương, gồm có tám. Sau đây sẽ giảng rõ hơn.“Hai là tâm sở hữu pháp” cũng tức là tâm sở pháp (chaitashika-dharmah), lại gọi là tâm sử. Sử là một sự sai bảo người, cũng như là công nhân của tâm. Tâm là vua, tâm sở tựa như quan quân đại thần hay công nhân thay vua làm việc. Lúc làm việc cần phải dùng đến tâm sở này. Tâm sở cũng gọi là “tâm số”, gồm có 51 thứ, những pháp này đều y chiếu theo tâm mà khởi ra. Là sở hữu của tâm gia, tức là tâm vương. Cho nên gọi là tâm sở hữu pháp.“Ba là sắc pháp.” Phàm những gì có hình chất, có thực thể đều gọi là sắc pháp (rupa-dharmah). Chẳng phải chỉ đơn thuần có màu sắc mới gọi là sắc pháp, những gì có chướng ngại, sờ mó được đều gọi là sắc pháp. Có tất cả là 11 thứ. Phần sau sẽ giảng rõ.“Bốn là tâm bất tương ưng hành pháp (citta-viprayukta-samskara-dharmah).” Pháp này không tương ứng với bốn pháp kia, tức nó không có hợp tác với nhau. Tự nó đơn độc, từ tâm sanh khởi ra nên không tương ưng. Pháp này thuộc về tất cả hành, có biểu hiện riêng của nó.“Thứ năm là vô vi pháp.” Bốn pháp trước là pháp hữu vi, còn pháp sau này thuộc về pháp vô vi (asamskrita-dharmah). Pháp vô vi là một loại pháp Đại thừa tu xuất thế. Cho nên cần phải tu pháp xuất thế mới có thể chứng đắc cảnh giới Vô vi này.Phần trên đã nói về 5 pháp. Khi giảng đến chánh văn, chúng ta sẽ phân tích tỉ mỉ hơn.Trong tất cả các pháp, bốn pháp trước là pháp hữu vi, pháp sau hết là pháp vô vi. Nếu như chỉ nhận thức bốn pháp trước thì đó là phàm phu ngoại đạo. Còn nếu chỉ nhận biết có pháp vô vi thì đó là Tiểu thừa thiên (nghiêng) “không”, chẳng đ