Albert Einstein Nói Về Phật Giáo

  -  
*

Chào mừng quý vị ghé thăm trang nhà tamkyrt.vn - Kính chúc quý vị thân tâm thường lạc, vạn sự kiết tường như ý
Albert Einstein viết về Phật giáo"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiên nhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover both the natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there is any religion that would cope with the modern scientific needs, it would be Buddhism)
---o0o---

Thế giới Tâyphương ngày càng hâm mộ về những sắc thái tiến bộ, lợi lạc... của Phật giáo.Cựu Tổng thống Bill Clinton đã ăn chay, tọa thiền hàng giờ mỗi ngày và nhiềukhoa học gia thượng thặng cũng đã nhận ra rằng tư tưởng Phật giáo đã giúp họrất nhiều trong việc giải thích những hiện tượng khoa học và dẫn họ đến những tưtưởng mới và khám phá mới trong khoa học.

Bạn đang xem: Albert einstein nói về phật giáo

Quan niệm về:VŨ TRỤ, VẬT LÝ NGUYÊN TỬ, VI TRÙNG, TRỊ LIỆU Y KHOA..v..v.. của Phật giáo hầunhư tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày naỵ

Trên 25 thế kỷtrước, Ðức Phật nói kinh A-Di-Ðà:

"ÔngXá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây có Ðức Phật Vô Lượng Thọ, Ðức Phật Vô LượngTướng, Ðức Phật Vô Lượng Tràng, Ðức Phật Ðại Quang, Ðức Phật Ðại Minh, Ðức PhậtBảo Tướng, Ðức Phật Tịnh Quang, các Ðức Phật như thế nhiêù như số cát sôngHằng, các Ngài đều ở tại Nước Các Ngài. Mỗi vị đang giáo hóa chúng sinh trên vôlượng hành tinh trong vũ trụ".

Năm 1960, giáosư Drake đã đưa ra một công thức để tính số lượng những hành tinh có nền vănminh trong giải Ngân Hà:

N = T x Sht xSsv x Sss x Svm x Ssll x Stt

Công thức nàyđược giáo sư Drake trình bày ở kỳ họp hội đồng thiên văn quốc tế năm 1979 tạiMontreal, Canada với đề tài Chiến Lược tìm kiếm sự sống trong vũ trụ.Thật sự trong vũ trụ có hàng tỉ giải ngân hà và nói rằng số chư Phật đang giáohóa chúng sinh tại nước Các Ngài nhiều như số cát sông Hằng không quá sự ướctính của các nhà thiên văn hiện tại.

Nói đến quanniệm về vũ trụ của Phật giáo chúng ta không thể bỏ qua kinh Hoa Nghiêm, phẩmthế giới thành tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết của mười đặctính của các thế giới: Nhân Duyên khởi, chỗ Trụ Nương, Hình Trạng, Thể tánh,Thanh Tịnh tánh, Trang Nghiêm tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biếnsai biệt và vô sai biệt.

Trong 10 đặctính của các thế giới, ta chỉ luận về Hình Trạng của các thế giới trong giảithiên hà, ngân hà. Chúng ta hãy đọc đoạn kinh sau đây: "Lúc đó, Phổ HiềnBồ Tát lại bảo chúng rằng: Thế giới có nhiều hình tướng sai khác hoặc hình nhưnước xoáy hoặc hình dạng như hoa..." Các nhà thiên văn có thể quan sátđược trong các chòm sao như Letus, Pegasus và Hercules, hình sông là Giải NgânHà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vântrong khoảng không gian liên-thiên-hà có chứa hàng tỷ ngôi sao... Chúng takhông thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn. (Mãi đến thếkỷ XVII, Galileo (1564-1642) mới chế ra kính thiên văn) mà Ðức Phật và các vịBồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có lẽ vì khâm phụctri kiến của chư Phật và các vị Bồ Tát, nhà bác học lừng danh nhất thế kỷ XXnày, Albert Einstein (1879-1955) khi nghiên cứu vũ trụ đã viết:

"Tôn giáocủa tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion)... Bao gồm cả thiênnhiên vật lý và tinh thần... Phật giáo bao gồm các thứ đó... Nếu có một tôngiáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính làPhật giáo”. (The religion of the future will be cosmic religion... cover boththe natural and spiritual... Buddhism answers this description... if there isany religion that would cope with the modern scientific needs, it would beBuddhism).

Các nhà vật lýnguyên tử hiện đại cũng không khỏi kinh ngạc về tri kiến Phật về hạt nhân màĐức Phật đã nói trong Kinh Bát Nhã: "Sắc chẳng khác Không, Không chẳngkhác Sắc. Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thịSắc". Đoạn kinh này đã đựơc nhà bác học Niels Bohr (1885-1962, giải Nobelvật lý) làm sáng tỏ vì ánh sáng không là Hạt (particle) và cũng chẳng là Sóng(wave) mà nó vừa là Hạt vừa là Sóng, cả hai thứ bổ túc cho nhau, nó vừa Có vừaKhông.

Xem thêm: Thư Viện Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Tp, Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Tp

Nếu Hạt Sóng làyếu tố căn bản của ánh sáng thì các khoa học gia đang tìm thành phần nhỏ nhấtcủa vật chất. Mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX các nhà vật lý nguyên tử đã tìm đượcvà khẳng định rằng thành phần cuối cùng của vật chất là Nguyên Tử và đặt tênmới bằng tiếng Hy Lạp (Atom) có nghĩa là không thể chia cắt được nữa. Danh từmới này thật ra đã có từ thời Phật Thích Ca. Ở Ấn Ðộ, thời Phật, danh từParamãnu có nghĩa tương đương với nguyên tử. Một hạt bụi rất nhỏ mà ta thấy bayvởn vơ trong làn ánh sáng được gọi là Ratharenu. Một Ratharenu phân làm 36Tajjaris. Một Tajjaris chia làm 36 Anus và một Anus chia làm 36 Paramãnus(nguyên tử), như vậy thì trong hạt bụi nhỏ có 46656 nguyên tử.

Ðến đầu thế kỷXX, các nhà bác học bảo nguyên tử chưa phải là nhỏ nhất, nó được cấu tạo bằngnhững hạt nhỏ hơn: electron, proton, neutron . . .Giữa thập niên 60, các nhà bác học lại tìm ra thêm những Phản Hạt của electron,proton, neutron... người ta gọi những hạt này là hạt cơ bản (elementaryparticle).Tới thập niên 70, khoa học tiến bộ hơn, có những máy gia tốc nănglượng rất lớn, họ đã tìm ra Hạt Quarks, 3 hạt quarks mới bằng một hạt cơ bản.Trong kinh Phật có một danh từ tương đương với Quark là hạt Lân Hư Trần (nghĩalà hàng xóm của Hư Không).

Các nhà vitrùng học còn kinh ngạc hơn khi biết được Đức Phật mà 25 thế kỷ trước đã thấynhững vi sinh vật trong bát nước vừa múc lên từ miệng giếng và Ngài đã chú vãngsinh cho những sinh vật bé nhỏ này trước khi uống:

"Phật quánnhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng."(Đức Phật đã nhìn thấy vô vàn -bát vạn tứ thiên-những sinh vật nhỏ trong mộtbát nước)

Mãi hơn 24 thếkỷ sau, bác sĩ Louis Pasteur (1822-1895) mới tìm ra những vi sinh vật này (vitrùng). Công trình nghiên cứu đã đưa Pasteur lên đài danh vọng: Ông được tặngthưởng huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh và được bầu vào Han Lâm viện Pháp quốc(Academie Francaise). Khi Ông mất, chính phủ Pháp đã tổ chức quốc táng.

Chúng ta thánphục Phật và các chư vị Bồ Tát đã thấy trước chúng sinh hàng bao thế kỷ: vũtrụ, vật lý, vi trùng v.v. nhưng chủ yếu của đạo Phật là làm cho chúng sinh bớtKhổ Ðau, rồi tiến tới An Lạc và Giải Thoát. Thực vậy, Ðức Phật đã tỏ ra vị thầythuốc đại tài để chữa bệnh Ðau Khổ cho con Người. Bác sĩ Carl Jung (1875 -1961) ông Tổ của ngành phân tâm học ca ngợi Phật.

Xem thêm: Hải Phòng: Những Ngôi Chùa Ở Hải Phòng Nhất Định Phải Đến, 6 Ngôi Chùa Ở Hải Phòng Nhất Định Phải Đến

"Công việccủa tôi là chữa trị bệnh đau khổ về tâm thần. Chính điều này đã đẩy tôi làmquen với quan điểm và phương pháp của bậc Thầy vĩ đại của nhân loại mà đề tàichính yếu là sự trói buộc của đau khổ (My task was to treat psychic sufferingand it was this that impelled me to become acquainted with the view and themethods of that Great Teacher of humanity, whose principal theme was the chainof suffering).

Trong những nhàbác học tên tuổi lớn thì có lẽ Albert Einstein là người viết về Đạo Phật nhiềunhất. Ðể kết luận tôi xin trích một đoạn văn ngắn của ông nói về Phật giáo:

"Phật giáokhông cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mớicủa khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan niệm của mình để chấp nhậnkhoa học bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học và đồng thời cũng vượt qua khoa học.Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếccầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâukín trong chính nó và trong môi trường sống chung quanh nó. Phật giáo siêu việtvượt qua thời gian. (Buddhism requires no revision to keep it up today withrecent scientific finding. Buddhism needs no surrender its view to science,because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is abridge between religious and scientific thoughts, that the stimulates man todiscover the talent potentialities within himself and his environment. Buddhismis timeless)