Người thuyền trưởng huyền thoại

Thứ năm - 29/11/2018 04:01
“Một mình trên chiếc thuyền chèo tay vượt biển ra miền Bắc”, mới nghe tưởng như huyền thoại nhưng đó là câu chuyện có thật về ngư dân Lê Thám. Người làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, chiến sĩ và chuyển tài liệu từ Bắc vào Nam và ngược lại bằng đường biển. Sau này ông trở thành Tiểu đoàn phó, Thuyền trưởng thuộc Cục Tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam.
Di ảnh của ông Lê Thám – Nguyên Tiểu đoàn phó, Thuyền trưởng thuộc Cục Tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam.
Di ảnh của ông Lê Thám – Nguyên Tiểu đoàn phó, Thuyền trưởng thuộc Cục Tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông Lê Thám còn có tên Lê Đành, Lê Hùng, Nguyễn Đông, sinh năm 1905 trong một gia đình ngư dân nghèo ở làng Tam Ấp, nay là thôn Hạ Thanh 1, (xã Tam Thanh, thành phố Tam Kỳ). Năm 1945, ông tham gia Cách mạng tháng Tám. Năm 1948, ông  vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng, được tổ chức phân công ở lại địa phương gây dựng cơ sở cách mạng, hoạt động bí mật trong lòng địch. Cơ sở từng bước đi vào hoạt động nề nếp, quy cũ, đầu năm 1956, ông được tổ chức gọi đi tập kết ra miền Bắc. Do phương tiện đi lại khó khăn, ông Lê Thám lấy chiếc thuyền đánh cá của gia đình, một mình vượt biển ra phía
Nam bờ sông Gianh, (tỉnh Quảng Bình) trình diện và nhận nhiệm vụ tại Cục Nghiên cứu thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Qua 3 tháng nghỉ dưỡng và học tập, ông được đơn vị giao nhiệm vụ đưa đón cán bộ tình báo và chuyển tài liệu từ Bắc vào Nam và ngược lại bằng đường biển. Hơn 5 năm (1956-1961) ông Lê Thám thực hiện được hàng chục chuyến thuyền, đưa hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ và nhiều tài liệu quan trọng đến nơi an toàn tiếp thêm sức mạnh cùng quân và dân miền Nam chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Vào buổi một ngày đầu tháng 6.1961, ông Lê Thám cho thuyền vào neo đậu bên bờ sông Hàn (Đà Nẵng), để thuyền viên đi chợ mua lương thực, thực phẩm chuẩn bị chuyển ra miền Bắc thì ông bị mật thám phát hiện và theo dõi. Khi thuyền viên trở về thuyền, thấy có người lạ mặt bám theo, ông nhanh tay thả cả túi tài liệu và chiếc máy ảnh xuống sông. Qua khám xét, mật thám chỉ phát hiện được mỗi chiếc la bàn dùng để đi biển nhưng địch vẫn bắt ông đưa về nhốt tại Trại giam An Đồn. Tại đây, ông bị địch dùng hai ngọn đèn điện công suất lớn chiếu thẳng vào mắt bắt ông hô khẩu hiệu phản động nhưng ông không chấp hành, bọn chúng treo ông lên xà nhà dùng roi điện đánh nhừ cả người. Sau đó, bọn chúng đưa về Sư đoàn 2 nhốt vào chuồng cọp và bỏ đói nhiều ngày liền. Không lâu sau, bọn chúng đưa ông ra Huế nhốt tại Trung tâm cải huấn trước khi chuyển sang nhà lao Mang Cá. Mười ngày sau, bọn chúng đưa ông ngược vào Đà Nẵng nhốt tại nhà lao Cây Me thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Mặc dù bị bọn chúng dùng nhiều thủ đoạn để tra tấn “thừa sống thiếu chết” nhưng không làm khuất phục được tấm lòng kiên trung, bất khuất của ông. Đầu năm 1962 bọn chúng đưa ông vào trại giam Lê Văn Duyệt (Sài Gòn), nhốt trong xà lim chật chội, người trần truồng, muỗi rệp cùng các loại côn trùng cắn làm lở loét khắp nơi trên cơ thể. Cuối năm 1962 ông bị chuyển về nhà lao Phú Lợi (Bình Dương), giữa năm 1963 đưa về nhà lao Tân Hiệp. Ở đây, bọn chúng bắt tù nhân chào cờ Việt Nam cộng hòa, hát những bài hát có nội dung phản động. Ông Lê Thám không chấp hành nên bị bọn chúng đánh đập dã man và đưa vào nhốt ở hầm tối. Hầm rất hẹp, tối tăm, hai tay, hai chân bị còng, ăn, ngủ và vệ sinh tại chỗ…Đủ mọi hình thức tra tấn cũng như dụ dỗ nhưng không khuất phục được tinh thần yêu nước của người cộng sản, tháng 9 năm 1965 bọn chúng kêu án tù chung thân và đày ông đi Côn Đảo.

Mới vừa đặt chân đến Cầu tàu 914 (Côn Đảo) bọn cai ngục đã đánh một trận phủ đầu rồi đưa về giam tại phòng số 8, trại 1. Trong những tháng năm bị giam cầm tại đây, ông luôn bị bọn cai ngục đánh đập, bắt chào cờ và đi làm tạp dịch. Ông Lê Thám cùng bạn tù nhất quyết không chấp hành, bị bọn chúng tung vôi bột vào trại để đàn áp, sau đó đưa đi nhốt ở chuồng cọp, bỏ đói nhiều ngày. Giữa năm 1968, địch phát hiện ông là chiến sĩ quân đội, chuyển về giam tại nhà lao Biên Hòa, tháng 10.1969 đưa ra Trại giam tù binh Phú Quốc. Tại đây, ông bị nhốt vào khu biệt giam, hai chân và hai tay bị xiềng chung chéo lại với nhau, người ông lúc nào cũng ở trong tư thế cong như con tôm. Mỗi đêm bọn chúng điểm danh 8 - 9 lần, ai ho bọn chúng bắt ra đánh sưng mình, gãy tay, gãy chân… Cuối năm 1971, có một số tù nhân vượt ngục, nghi có sự tiếp sức của ông, bọn chúng bắt ông nằm vắt ngang bụng trên một thanh gỗ hẹp, ruột gan đau như cắt, nếu chịu đau không nổi, ngã xuống đất bọn chúng sẽ đánh và bắt lên nằm lại cho đến khi ngất người đi..

Ông Nguyễn Hữu Tiến – Nguyên Tổng Giám đốc Công ty thiết bị phụ tùng khu vực 3, Bộ NN&PTNT, cháu ngoại ông Lê Thám cho biết. Năm 1973, thực hiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông Lê Thám được trao trả tù binh tại Thiện Ngôn (Lộc Ninh) và được đưa ra miền Bắc để an dưỡng. Thời gian này, ông được Nhà nước chi trả tiền bằng với giá trị chiếc thuyền đánh cá của gia đình mà ông đã đem ra miền Bắc và đã sử dụng vào việc vận chuyển nhưng ông tuyệt đối không nhận. Cuối năm 1974, Ban Thống nhất Trung ương cử ông vào đoàn công tác của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đi tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ Ngụy tại 6 nước gồm Đức, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Nam Tư và Tiệp Khắc. Tại mỗi nơi đến ông đã vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, đồng thời kêu gọi các nước yêu chuộng hòa bình ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh bảo vệ công lý về quyền con người. Sau ngày đất nước thống nhất, ông Lê Thám về quê sinh sống, được nhân dân tin yêu giao giữ trọng trách Chủ tịch UBMT Tổ quốc Việt Nam xã. Do tuổi cao, sức yếu, năm 1978 ông nghỉ việc cùng gia đình định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3.1999 ông đã qua đời, để lại biết bao tiếc thương cho gia đình, người thân và đồng đội.

Hơn 5 năm chèo lái con thuyền đưa hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ và nhiều tài liệu quan trọng từ Bắc vào
Nam và ngược lại an toàn, tuyệt mật. Hơn 12 năm bị địch bắt, đày đi qua các nhà tù từ Đà Nẵng, ra Huế lại vào Sài Gòn, Bình Dương…Hàng trăm lần bị địch tra tấn nhưng ông vẫn thủy chung với cách mạng, trung thành với Đảng, với nhân dân. Đã đi về cõi vĩnh hằng nhưng ông để lại niềm vui lớn nhất cho con cháu là được tổ chức Đảng tin yêu công nhận đảng tịch liên tục trong suốt 12 năm bị địch bắt tù đày, được Cục Tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam công nhận chức vụ Thuyền trưởng, Tiểu đoàn phó quân giải phóng. Vui hơn nữa là được Đảng và Nhà nước phong tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.

Tác giả bài viết: NGUYỄN ĐIỆN NGỌC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây